Hải Phòng: Về Bảo Hà khám phá bí ẩn pho tượng tự đứng lên ngồi xuống

Hải Phòng – Làng tạc tượng Bảo Hà được coi là cái nôi của nghề tạc tượng Việt Nam, thuộc huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng. Đây cũng là nơi có Miếu Bảo Hà thờ tượng Linh Lang Đại vương có thể tự đứng lên ngồi xuống như người thật, khiến nhiều người đến tham quan ngôi miếu phải kinh ngạc.

Hải Phòng: Về Bảo Hà khám phá bí ẩn pho tượng tự đứng lên ngồi xuống
Ông Thạnh dọn dẹp bàn thờ pho tượng. Ảnh: Thiên Hà

Tại miếu Bảo Hà (thôn Bảo Hà, xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng) thờ Đức Linh Lang Đại vương – con trai vua Lý Thánh Tông, có một bức tượng tuổi đời trên 700 tuổi được coi là “độc nhất vô nhị” vì có thể “tự đứng lên ngồi xuống”.

Khu vực cổng Miếu Bảo Hà. Ảnh: Thiên Hà
Khu vực cổng Miếu Bảo Hà. Ảnh: Thiên Hà

Đây là sự sáng tạo mang nét tinh tế của người dân làng tạc tượng Bảo Hà từ nhiều đời nay. Bởi vậy, người dân làng tạc tượng không chỉ coi bức tượng là bảo vật mang ý nghĩa tâm linh mà còn là biểu tượng cho ngôi làng truyền thống với nghề tạc tượng, múa rối.

Không giống các pho tượng được đặt trong các đền đài, miếu mạo khác, pho tượng Đức Linh Lang Đại vương ở miếu Bảo Hà được tạc cao bằng người thật. Với chiều cao 1,7m, nét mặt khôi ngô, đầu đội vương miện, mình khoác áo lụa bào, trong tư thế ngồi trên ngai vàng, tay cầm văn tự, có thể đứng lên một cách nhẹ nhàng, khoan thai và ngồi xuống từ từ.

Pho tượng Đức Linh Lang Đại vương. Ảnh: Thiên Hà
Pho tượng Đức Linh Lang Đại vương. Ảnh: Thiên Hà

Ông Đặng Văn Thạnh – Thủ từ Miếu Bảo Hà (người trông miếu) – cho biết, việc pho tượng có thể đứng lên, ngồi xuống, là nhờ hoạt động theo nguyên lý “cánh tay đòn” gồm các hệ thống ròng rọc, khớp nối được làm bằng một loại gỗ đặc biệt nằm trong căn hầm phía dưới cung cấm của miếu.

Bên cạnh đó, các nghệ nhân xưa đã khéo léo kết hợp nghệ thuật tạc tượng với nghệ thuật múa rối cạn, làm ra hệ thống truyền lực kéo đẩy nối giữa cánh cửa với các khớp nối của pho tượng.Sự kết hợp truyền lực kéo đẩy của cánh cửa và pho tượng. Video: Thiên Hà

Hình ảnh pho tượng đứng lên. Ảnh: Thiên Hà
Hình ảnh pho tượng đứng lên. Ảnh: Thiên Hà

“Tôi mở cánh cửa thì bức tượng dần đứng lên và khi tôi kéo cánh cửa ngược lại (kéo cánh cửa xuống) thì bức tượng từ từ ngồi xuống để trở về tư thế ban đầu.

Cũng nhờ sự độc đáo như vậy mà du khách thập phương tìm đến miếu rất đông. Mỗi ngày, tôi tiếp nhiều đoàn khách từ khắp nơi trở về đây tham quan, chiêm ngưỡng tượng” – ông Thạnh nói.

Khu vực bên ngoài miếu. Ảnh: Thiên Hà
Khu vực bên ngoài miếu. Ảnh: Thiên Hà

Được biết, Miếu Bảo Hà được công nhận là Di tích Lịch sử cấp quốc gia vào năm 1991, là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa làng nghề tạc tượng từ nhiều đời nay.

Ngôi miếu do chính bàn tay của những người thợ tài hoa thế kỷ XIII chạm trổ có hoa văn tinh xảo, đẽo tạc những bức tượng đẹp được lưu giữ, không chỉ tạo nên sự linh thiêng, kì bí mà còn khiến cho du khách xa gần đều cảm thấy trầm trồ trước sự tài hoa của những nghệ nhân xưa.

(Theo Báo Lao Động)

Vì sao pho tượng cổ 700 năm tuổi tọa lạc trong miếu Bảo Hà ở Hải Phòng biết “ngồi xuống đứng lên”?

Pho tượng tại miếu Bảo Hà (thôn Bảo Hà, xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng), thờ Đức Linh Lang Đại vương trong tư thế ngồi trên ngai, tay cầm văn tự có thể chuyển động, đứng lên một cách nhẹ nhàng, khoan thai, rồi lại từ từ ngồi xuống được xem là một trong số những pho tượng kỳ lạ, độc nhất vô nhị tại Việt Nam.

Từ xa xưa, làng Bảo Hà (xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo) là một địa danh nổi tiếng ở TP Hải Phòng về nghề truyền thống như tạc tượng, múa rối.

Bí ẩn pho tượng ngàn năm tuổi biết đứng lên, ngồi xuống - Ảnh 1.

Pho tượng Đức Linh Lang Đại vương tọa lạc tại miếu Bảo Hà (thôn Bảo Hà, xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng) có thể “đứng lên, ngồi xuống”

Tương truyền, cụ Nguyễn Công Huệ là người có công sáng lập, truyền dạy nghề tạc tượng cho dân làng Đồng Minh.

Những năm giặc Minh đô hộ nước ta, cụ Huệ bị bắt đi phục dịch ở Quan Xưởng, Trung Quốc. Trong thời gian đó, cụ đã chú tâm học nghề chạm khắc, sơn mài và châm cứu. Đến đời Lê Nhân Tông (1443 – 1459), cụ Huệ trở về quê và dạy nghề tạc tượng cho dân làng. Mọi người suy tôn cụ là Tổ nghề tạc tượng và được phối thờ tại miếu Bảo Hà.

Cho đến giờ, người dân Đồng Minh vẫn lưu truyền giai thoại “7 hạt gạo nếp tạc thành đàn voi” của người thợ tạc tượng Tô Phú Vượng. Ông là một trong những học trò nổi tiếng tài hoa của cụ Huệ. Vua Lê Cảnh Hưng đã vời ông Vượng vào cung tạc ngai vàng

Sau khi tạc xong ngai vàng, ông sung sướng đã tạo ra một kiệt tác nên ngồi thử. Bị thái giám phát hiện và tâu với nhà vua, ông Vượng bị khép tội “khi quân phạm thượng”, nhốt vào ngục tối chờ ngày xử trảm. Sống trong ngục mấy hôm, ông Vượng cảm thấy “ngứa nghề”. Thấy những cọng rơm nếp còn sót lại một vài hạt thóc, ông liền lấy tay bóc, chuốt 7 hạt gạo nếp thành 7 con voi với các tư thế khác nhau.Chuyện về đàn voi tí hon truyền đến khắp nơi, nhà vua biết chuyện, cảm phục cái tài của người thợ tạc tượng tài hoa, đã quyết định tha bổng, phong ông Tô Phú Vượng tước “Kỳ tài hầu” và cho về quê mở mang, lưu truyền nghề nghiệp.

Theo thần phả, Linh Lang là con vua Lý Thánh Tông sinh vào tháng Chạp, năm Giáp Thìn (1064), được đặt tên là Hoằng Chân, mẹ là cung phi thứ 9. Linh Lang được sinh ra tại làng ở Trị Chợ, Thủ Lệ (quận Ba Đình, TP Hà Nội ngày nay). 

Khi giặc Tống xâm lược nước ta, Hoàng tử Linh Lang chỉ huy quân sĩ chống giặc. Trong một đợt hành quân, ngài tới trang Linh Động (làng Bảo Hà ngày nay) dựng đồn binh, luyện tập binh sĩ, tuyển mộ quân. 

Về sau này, để tưởng nhớ công ơn của ngài, dân làng xây miếu thờ trên nền đồn binh xưa. Các triều đại phong kiến sau này như đời vua Cảnh Thịnh, Tự Đức, Duy Tân và Khải Định đều phong sắc cho ngài là Thượng Đẳng thần, dân làng Bảo Hà tôn ngài là Thành hoàng và tạc tượng thờ.

Ông Đặng Văn Thạnh (70 tuổi), thủ từ miếu Bảo Hà, cho hay miếu Bảo Hà còn có tên gọi khác là Tam Xã Linh Từ. Sở dĩ có tên gọi như vậy là do từ cuối thế kỷ 13, miếu được nhân dân 3 xã Hà Cầu, Bảo Động, Mai An xây lên.

Trải qua các thời kỳ nhà Lê, Nguyễn…miếu Bảo Hà được trùng tu và mở rộng dần. Đến đời vua Thành Thái (1889-1907) là lần trùng tu cuối cùng nên miếu hiện nay mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn nhiều hơn.

Theo cán bộ văn hóa xã Đồng Minh, bức tượng đặt biệt tại miếu có từ thế kỷ 13, tuổi đời trên 700 năm với nét độc đáo và kỳ lạ. Không giống các pho tượng được đặt trong các đền đài, miếu mạo, pho tượng thờ Đức Linh Lang Đại vương ở miếu Bảo Hà (xã Đồng Minh) được tạc cao khoảng 1,7 m như người thật, nét mặt khôi ngô, đầu đội vương miện, mình khoác áo lụa bào trong tư thế ngồi trên ngai, tay cầm văn tự.

Vị cán bộ văn hóa xã Đồng Minh cho hay pho tượng là sự kết hợp tinh túy của nghệ thuật dân gian và nghệ thuật hiện đại, đây cũng là một bảo tồn nhỏ của môn nghệ thuật múa rối truyền thống của làng Bảo Hà.

Bí ẩn pho tượng ngàn năm tuổi biết đứng lên, ngồi xuống - Ảnh 2.

Bí ẩn pho tượng ngàn năm tuổi biết đứng lên, ngồi xuống - Ảnh 3.

Pho tượng kỳ lạ tạc Đức Linh Lang Đại vương tọa lạc tại miếu Bảo Hà (thôn Bảo Hà, xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng) tại miếu Bảo Hà có thể chuyển động, đứng lên, ngồi xuống một cách nhẹ nhàng, khoan thai.

Vị này cũng “bật mí” pho tượng có thể đứng lên, ngồi xuống là nhờ hoạt động theo nguyên lý “cánh tay đòn” gồm hệ thống ròng rọc, khớp nối hoàn toàn bằng một loại gỗ đặc biệt nằm trong căn hầm phía dưới cung cấm mà đến nay người dân địa phương vẫn chưa thể biết đó là loại gỗ gì.

Bí mật của sự chuyển động của bức tượng Đức Đức Linh Lang Đại vương nằm ở cánh cửa của điện thờ nơi có bức tượng. Các nghệ nhân tạc tượng xưa khéo léo kết hợp giữa nghệ thuật tạc tượng và nghệ thuật múa rối cạn, làm ra hệ thống truyền lực kéo đẩy nối giữa cánh cửa với các khớp của pho tượng. Vì vậy, khi mở, cánh cửa sẽ truyền lực lên pho tượng. Bức tượng dần đứng lên và ngược lại, khi cửa khép lại thì bức tượng lại trở về tư thế ngồi ban đầu. Để đóng, mở cánh cửa để bức tượng đứng lên ngồi xuống, chỉ có người quản lý miếu Bảo Hà mới có thể làm thuần thục. Sự chuyển động của bức tượng khiến cho những người đến đây trầm trồ khen ngợi về sự tài hoa của người thợ làng Bảo Hà, khiến ngôi miếu này trở nên linh thiêng, kì bí.

(Theo Báo Dân Việt)

BẢO HÀ – LÀNG TẠC TƯỢNG HƠN 500 NĂM TUỔI

Bảo Hà nằm ở địa phận xã Đông Minh, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Làng có nghề truyền thống điêu khắc tượng tới nay đã hơn 500 năm tuổi.

langbaoha4
Làng Bảo Hà được coi là cái nôi của nghề tạc tượng ở Việt Nam

Làng tạc tượng Bảo Hà được coi là cái nôi của nghề tạc tượng Việt Nam. Theo truyền thuyết được lưu truyền tại làng thì vào thế kỷ thứ XV, khi nhà Minh đô hộ Việt Nam ( 1407-1427) đã bắt thanh niên trai tráng đưa sang Trung Quốc làm việc tại các xưởng sản xuất, xây dựng lăng tẩm, đền đài. Một trong số những thanh niên ngày đó bị bắt có Nguyễn Công Huệ – người đã học được nghề tạc tượng và sản mài. Sau khi hồi hương, Nguyễn Công Huệ đã truyền lại nghề này cho dân làng. Khi ông mất, dân làng Bảo Hà nhớ ơn lập miếu, tạc tượng và tôn thờ ông như tổ sư của nghề.

Với hơn 500 năm tồn tại và phát triển, làng tạc tượng Bảo Hà từ lâu đã trở thành ngôi làng nổi tiếng với nghề truyền thống độc đao; gắn liền với nhiều hoạt động văn hóa, du lịch của vùng đồng bằng sông Hồng.

Ngay trong thời kỳ phong kiến, nghề tạc tựng Bảo Hà đã nổi tiếng khắp xứ Đông, có nhiều nghệ nhân giỏi được triều đinh trọng dụng, đã từng tạc ngai vàng cho vua. Các nghệ nhân tạc tượng làng Bảo Hà đã đi nhiều nơi trong và ngoài vùng như: Ninh Giang (Hải Dương), Tiên Lãng ( Hải Phòng), làng Nguyễn (Đông Hưng- Thái Bình)… để làm tượng chùa, làm quân rối cho các phường rối… Những tác phẩm tạc tượng do những nghệ nhân làng Bảo Hà làm ra mang có phong cách nghệ thuật riêng và rất độc đáo, và có uy tín, chiếm được cảm tình của nhiều nơi.
Dù hiện nay, làng Bảo Hà đã phát triển thêm nhiều sản phẩm khác nhưng trong lịch sử Bảo Hà đã có tới hơn nửa thiên niên kỷ chuyên tạc tượng Phật. Bên cạnh đó, tinh hoa của làng nghề còn có đôi tượng phỗng – được đặt tại rất nhiều miếu thờ trong vùng.

Post 2_featured image
Làng Bảo Hà có tới hơn nửa thiên niên kỷ chuyên tạc tượng chân dung và tượng Phật Phật..Tượng chân dung và tượng Phật của làng mang sắc thái rất riêng, sống động và có hồn..

IMG_20190219_124657

Những pho tượng gỗ làng Bảo Hà không chỉ tinh xảo về đường nét chạm khắc mà còn có hồn nhờ vào đôi ban tay tài hoa của những nghệ nhân nơi đây. Để tạo nên một pho tượng không hề đơn giản, đầu tiên là phải có chất liệu. Tuy có nhiều loại gỗ có thể sử dụng để tạc tượng như: dối, xoan, sung… nhưng loại gỗ được ưa thích nhất là gỗ mít – loại gỗ vừa mềm, vừa chống được mối mọt, ít bị tác động của nước, lại dễ kiếm và không quá đắt như những loại gỗ quý khác. Tiếp đó từng phần của tượng được cắt gọt, chạm sau đó đến công đoạn sơn, phải sơn nhiều lớp rồi thếp bạc, lọng son, vẽ râu, mắt mũi, sơn màu trang phục…Bức tượng khi hoàn thiện phải đảm bảo nhìn có hồn, trang phục sắc nét, tổng thể sống động và có thần thái riêng. Các nghệ nhân làng Bảo Hà không bao giờ vội vã hay qua loa khi hoàn thành một tác phẩm ngay cả khi đơn đặt hàng nhiều và khách hàng hôi thúc. Thông thường để hoàn thiện một bức tượng phải mất từ 2 tuần tới 1 tháng tùy vào kích thước cũng như nội dung của bức tượng. Thời gian đục đẽo tượng mất khoảng 10 ngày, thời gian sơn vẽ thêm chừng 5 ngày nữa là có một tác phẩm hoàn thiện.

Bên canh nghề làm tạc tượng, làng Bảo Hà còn có nghề chạm khắc và biểu diễn quân rối cạn. Các cụ cao niên trong làng kể rằng: Sự ra đời của nghệ thuật rối cạn cổ truyền làng Bảo Hà xuất phát chính nghề chạm khắc tượng rất nổi tiếng gần xa của làng. Từ hàng trăm năm trước, các bức tượng của làng Bảo Hà đã nổi tiếng, từ đó làng nhận nhiều “đơn đặt hàng” làm quân rối cho các phường rối. Người dân trong làng thấy thú vị và nghĩ đến việc xây dựng một phường rối cạn để phục vụ đời sống tinh thần cho chính dân làng mình, từ đó nghề rối đã ra đời.

Đến Bảo Hà hôm nay, du khách có thể tìm hiểu về quy trình sản xuất một bức tượng. Bên cạnh đó còn có thể thưởng thức rối nước của phường rối nước Minh Tân do nghệ nhân Đào Minh Tuân thành lập và đang hoạt động như một mô hình mới trong công tác bảo tồn vốn văn hóa cổ truyền..

(Theo cinet.vn)

VĨNH BẢO: NHỮNG NGƯỜI THỢ TẠC TƯỢNG TÀI HOA LÀNG BẢO HÀ

VĨNH BẢO: NHỮNG NGƯỜI THỢ TẠC TƯỢNG TÀI HOA LÀNG BẢO HÀ

Mang trong mình những giá trị truyền thống đặc sắc, sản phẩm điêu khắc gỗ – sơn mài của làng nghề Bảo Hà (xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng) được mọi người ưa chuộng. Đến nay, sản phẩm của làng nghề Bảo Hà đã được xuất khẩu ra các nước và vùng lãnh thổ như: Nga, Đức, Đài Loan…

Nghề điêu khắc gỗ, sơn mài ở Bảo Hà có lịch sử hơn 500 năm, trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử. Do chiến tranh, nạn đói… những người thợ Bảo Hà phải phiêu bạt khắp nơi để kiếm sống. Do đó, nghề điêu khắc gỗ – sơn mài truyền thống của làng có lúc bị mai một. Đến cuối thế kỷ XX, nhờ có chính sách của Đảng, Nhà nước, làng nghề truyền thống nơi đây dần được khôi phục.

Những người thợ lại có dịp trổ tài chạm khắc gỗ – sơn mài, tạo nên những tác phẩm nghệ thuật có giá trị thẩm mỹ cao, phục vụ đời sống tinh thần cho nhân dân, mang lại thu nhập khá cho người thợ. Từ đây, xuất hiện những người thợ tài hoa như: cụ Đào Trọng Đạm được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân điêu khắc; cụ Nguyễn Văn Thắng được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân sơn mài… Ngày nay, các thế hệ làng nghề Bảo Hà vẫn duy trì và phát triển làng nghề truyền thống. Năm 2007, UBND TP Hải Phòng công nhận làng nghề Bảo Hà là “Làng nghề truyền thống điêu khắc gỗ – sơn mài”.

cropped-sc6a1n-c491e1bb93ng.jpg

main-banner

Theo ông Bùi Văn Nhâm, Chủ tịch UBND xã Đồng Minh, Hiện nay, làng nghề Bảo Hà có gần 200 hộ với trên 200 lao động làm nghề điêu khắc, sơn mài. Trung bình, tổng giá trị sản xuất từ nghề đem lại gần chục tỷ đồng/năm. Các xưởng lớn trong làng có thu nhập khoảng từ 40 – 50 triệu đồng/tháng. Sản phẩm chủ yếu của làng nghề là: đồ thờ như tượng, truyền thần, nhang án, hoành phi, câu đối, cửa võng, tranh ảnh sơn mài…

Trước đây, làng nghề chỉ làm trong 3 tháng trong năm (từ tháng 8 đến tháng 11). Những năm gần đây, khi nhu cầu của thị trường gia tăng, làng bận rộn quanh năm với nhiều đơn hàng. Những người thợ làm việc suốt ngày đêm không ngơi nghỉ. Đến nay, sản phẩm của Bảo Hà đã có mặt tại nhiều tỉnh, thành trong nước và được xuất khẩu ra nước ngoài.

Theo nhiều khách hàng, bàn tay khéo léo của người thợ làng Bảo Hà tạo nên những đường nét chạm khắc mang phong cách rất riêng, rất “có hồn”. Mỗi sản phẩm mang những giá trị truyền thống được kết tinh từ đôi bàn tay tài hoa, sự sáng tạo của bao thế hệ người thợ Bảo Hà.

Với người thợ Bảo Hà, từ khi là anh phó học nghề đến khi mắt quen nhìn và nhập tâm từng mẫu tượng đòi hỏi sự kiên trì rèn luyện tay nghề trong thời gian dài. Khi hợp đồng vừa đưa đến, trong đầu người thợ đã hình thành tư thế tượng; cách tạo dáng; kích cỡ… Tuy đạt đến mức “thuận mắt quen tay” nhưng mỗi công đoạn không vì thế mà người thợ làm cẩu thả, chủ quan, trái lại rất khoa học. Điển hình, việc đẽo gọt từng bộ phận rồi chắp lại cho khít hay công đoạn sơn được người thợ làm cẩn thận để tạo ra được màu “sơn son thếp vàng” bền vững qua năm tháng không bị bào mòn.

Không chỉ có bàn tay tài hoa, tính cần cù, những người thợ của làng còn đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng trong và ngoài nước. Những xưởng điêu khắc, sơn mài của làng Bảo Hà còn là nơi đào tạo nhiều thợ ở các tỉnh, thành lân cận. Họ tìm đến Bảo Hà học nghề rồi trở về quê mở xưởng, mang theo “phong cách Bảo Hà” tới muôn phương.

Với những nét đặc sắc riêng có, làng nghề Bảo Hà trở thành một địa điểm thú vị trong chương trình “Du khảo đồng quê” của du khách khi về Hải Phòng tham quan du lịch.

Ngoài những đồ thờ có tính cổ điển khuôn mẫu, các nghệ nhân nơi đây còn sáng tạo thêm tượng truyền thần. Rất nhiều người ngưỡng mộ tượng truyền thần Bảo Hà vì mỗi bức tượng rất chân thật, có “hồn”. Trên đó, người nghệ nhân thể hiện được khí chất, tính cách của những con người bình thường. Điều đó càng khẳng định sự khéo léo của người thợ Bảo Hà. Sau khi nhận ảnh của khách, nghệ nhân suy nghĩ, phác thảo tượng rồi chọn gỗ theo kích thước khách đặt hàng.

Nghệ nhân Bảo Hà thường dùng gỗ mít để tạc tượng truyền thần vì loại gỗ này mềm, dẻo, chống mối mọt, không chịu nhiều tác động của nước, lại dễ kiếm và không đắt như các loài gỗ quý khác. Nghệ nhân sáng tạo từng phần của tượng rồi mới ghép các bộ phận thành bức tượng hoàn chỉnh. Cái tài hoa của người thợ Bảo Hà là tượng truyền thần do họ tạc nên không những giống hệt ảnh mà từng tượng đều có thần thái riêng. Với bức tượng có “hồn” này, người thợ làm nhẵn bề mặt tượng rồi mới sơn nhiều lớp, thếp bạc, lọng son cho tượng gỗ. Cuối cùng là vẽ tóc râu, mắt mũi… và sơn màu quần áo cho tượng. Các nghệ nhân cho biết, phải mất chừng 10 ngày để đục đẽo tượng và khoảng 5 ngày để sơn vẽ hoàn thiện bức tượng truyền thần.

Ông Nguyễn Văn Điềm, cán bộ phụ trách phát triển ngành nghề của UBND xã Đồng Minh cho biết, do là nghề truyền thống nên việc đào tạo nghề ở Bảo Hà chỉ là “cha truyền con nối” chứ người thợ không được đào tạo cơ bản. Vì thế, nhận thức của người thợ về kỹ thuật, mỹ thuật, tiếp thị, thị trường,… còn nhiều hạn chế. Công cụ sản xuất cũng còn lạc hậu, hình thức sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún…

Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh ngày nay, việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm điêu khắc gỗ, sơn mài Bảo Hà đang được đặt ra cấp thiết, nhằm tránh đánh mất thương hiệu hoặc bị giả mạo. UBND xã Đồng Minh đang nộp đơn lên Cục Sở hữu trí tuệ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm truyền thống của Bảo Hà.

Để duy trì và phát triển làng nghề truyền thống, UBND xã Đồng Minh phối hợp với Trung tâm Khuyến công Hải Phòng, Trung tâm Dạy nghề huyện Vĩnh Bảo tổ chức các lớp đào tạo, nâng cao tay nghề cho người thợ Bảo Hà, tổ chức cuộc thi tay nghề và sáng tạo sản phẩm thủ công mỹ nghệ…

UBND xã động viên, khuyến khích các hộ làm nghề tham gia triển lãm hàng thủ công mỹ nghệ, quảng bá sản phẩm, tạo điều kiện cho hộ làm nghề tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ việc làm. Đặc biệt, UBND xã Đồng Minh quy hoạch khu sản xuất nghề tập trung với diện tích 8,6 ha tại xứ Đồng Kênh, làng Quyết Tiến. Dự án này được UBND TP Hải Phòng phê duyệt quy hoạch xây dựng 3,8ha. Hy vọng, với những nỗ lực của địa phương, làng nghề tạc tượng Bảo Hà sẽ ngày càng phát triển, đưa sản phẩm ra nhiều thị trường ngoài nước…

Theo Đăng Hùng & Hân Minh – CAND

LÀNG TẠC TƯỢNG CHÂN DUNG, TRUYỀN THẦN BẢO HÀ

LÀNG TẠC TƯỢNG BẢO HÀ

Sau hơn 500 năm, những nghệ nhân làng Bảo Hà (xã Đồng Minh – huyện Vĩnh Bảo – Tp. Hải Phòng) vẫn nức danh xứ Đông bởi có nghề làm tượng Phật. Về Bảo Hà hôm nay khắp đường làng, ngõ xóm là những xưởng tạc tượng suốt ngày nhộn nhịp tiếng cưa đục. Người dân Bảo Hà đang làm giàu từ chính nghề truyền thống của ông cha.

Xưa kia, làng nghề tạc tượng Bảo Hà từng là nơi sản xuất tượng đẹp có tiếng ở xứ Đông (trấn Đông của kinh thành Thăng Long xưa – PV). Từ thế kỷ XV, ông tổ nghề Nguyễn Công Huệ đã bày cho người dân trong vùng nghề tạc tượng. Tương truyền, bức tượng tổ Nguyễn Công Huệ và tượng thánh Linh Lang Đại Vương trong miếu cổ làng Bảo Hà là những tác phẩm để đời của cụ.Ngày nay, khi kinh tế thị trường phát triển, những người dân Bảo Hà đã mạnh dạn làm giàu cho bản thân và quê hương từ nghề cổ. Từ những xưởng nhỏ, nhiều gia đình đã mở rộng quy mô thành xưởng sản xuất lớn hơn đáp ứng những đơn đặt hàng ngày càng nhiều, điển hình như xưởng của ông Văn Túy (Hội nghệ nhân Tp Hải Phòng). Bà Nguyễn Thị Ngần, một chủ xưởng chia sẻ: “Tổ tiên đã để lại một nghề quý cho con cháu. Nghề cổ này là nghề giúp chúng tôi có thu nhập. Nếu nói cuộc sống khá giả lên rất nhiều do nghề nghiệp của tiên tổ để lại cũng không có gì quá”.


Chân dung tự tạc của ông tổ nghề Nguyễn Công Huệ.

Tương truyền tượng Linh Lang Đại Vương có tuổi đời gần 500 năm
cũng là một tác phẩm nổi tiếng của ông tổ làng nghề Nguyễn Công Huệ.

Một cụ già người làng Bảo Hà thành kính trước bàn thờ tổ nghề Nguyễn Công Huệ.

Năm 2007 làng nghề Bảo Hà, xã Đồng Minh được UBND Tp Hải Phòng công nhận là “Làng nghề truyền thống điêu khắc gỗ – sơn mài”. Hiện nay, trong số 973 hộ làm nghề ở Bảo Hà, có tới 180 hộ tạc tượng với 20 xưởng sản xuất lớn nhỏ, tạo việc làm cho hơn 200 lao động địa phương. Hàng năm, làng nghề đóng góp 40% giá trị sản xuất công nghiệp địa phương, thu nhập trung bình mỗi xưởng lớn không dưới 30 triệu đồng/tháng, tháng nào nhiều đơn hàng có thể lên tới 50 triệu đồng. Những con số trên tuy chưa nhiều song đã cho thấy sự phối hợp của địa phương và người dân trong việc gìn giữ và phát triển nghề tạc tượng. Làng nghề Bảo Hà đã là một địa điểm trong chương trình “Du khảo đồng quê” của du khách mỗi khi về Vĩnh Bảo tham quan khám phá du lịch làng nghề.Nói về đặc trưng của tượng ở Bảo Hà, bà Nguyễn Thị Ngần cho biết, khách hàng ở khắp nơi, trong nước và nước ngoài chuộng tượng được làm ở Bảo Hà vì cái thế tượng luôn vững chãi và cân đối, mạnh mẽ về hình khối. Những đường nét trên tượng chân thật như thể đang “tạc” hồn nhân vật.

Với người thợ Bảo Hà, từ khi là anh phó học nghề, đến khi mắt đã quen nhìn và nhập tâm từng mẫu tượng là sự học hỏi không phải ngày một ngày hai. Quan sát họ làm chúng tôi mới thấy, ngoài sự tài hoa, khéo léo của người dân quê, họ còn có sự nhuần nhuyễn của người thợ giỏi. Khi hợp đồng vừa đưa đến, trong đầu người thợ đã hình thành được tư thế tượng; tạo dáng thế nào; kích cỡ cũng đã được áng chừng. Tuy đạt đến mức “thuận mắt quen tay” nhưng mỗi công đoạn không vì thế mà người thợ làm cẩu thả, chủ quan, trái lại rất khoa học. Ví như việc đẽo gọt từng bộ phận rồi chắp lại cho khít, hay công đoạn sơn được người thợ làm cẩn thận để tạo ra được màu “sơn son thếp vàng” bền vững qua năm tháng không bị bào mòn.


Cưa máy giúp người thợ tạo hình cho sản phẩm được chuẩn xác.

Người thợ Bảo Hà dồn hết tâm trí vào mỗi đường đục cho tác phẩm của mình.

Một tượng Phật cỡ lớn đang trong quá trình tạo dáng.

Một người thợ làng nghề Bảo Hà.

Ghép gỗ tạo dáng là một trong những thế mạnh của nguời thợ Bảo Hà.

Nước sơn thí (lớp sơn lót) luôn được người thợ thực hiện rất cẩn thận.

Sự tỉ mỉ của người thợ trên từng đường nét sơn son.

Tượng truyền thần – một mảng sáng tạo thể hiện tài năng của người thợ Bảo Hà.

Nghệ nhân Nguyễn Văn Tuý thếp bạc trên tượng Quan Thế Âm Bồ Tát.

Ngoài thể hiện hình tượng có tính cổ điển khuôn mẫu, tượng truyền thần – một mảng sáng tạo nữa của nghệ nhân Bảo Hà cũng rất đặc sắc. Mỗi bức tượng được thực hiện khá chân thật, khi hóm hỉnh, khi chất phác, khi hiền hậu… Người nghệ nhân thể hiện được khí chất, tính cách của những con người bình thường trên tượng truyền thần. Điều đó càng khẳng định sự khéo léo của người thợ Bảo Hà.

Giữa thanh âm đục đẽo của xưởng, tôi cứ lặng ngồi quan sát từng tốp thợ miệt mài đẽo gọt những thớ gỗ vô tri thành những “tác phẩm nghệ thuật”. Tôi đã thấy cái tài và cả cái tâm của những người “nghệ sỹ nông dân” này. Thiết nghĩ, bằng cách này người dân Bảo Hà không chỉ tự hào, trân trọng vốn quý mà ông cha để lại mà còn là sự gìn giữ thiết thực nhất đối với nghề truyền thống của quê hương./.

 

Bài: Thục Hiền – Ảnh: Trần Thanh Giang