Q.V.
Bài đăng trên “Tạp chí Mỹ thuật” số 1 năm 1986
Xưởng Điêu khắc Tượng Gỗ Bảo Hà – Làng nghề tạc tượng truyền thống Bảo Hà
Q.V.
Bài đăng trên “Tạp chí Mỹ thuật” số 1 năm 1986
Từ thị trấn huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng) đi theo đường 10 chừng 3 km về hường Thái Bình, rẽ trái hỏi thăm xã Đồng Minh rồi vào làng Bảo Hà – một làng có nghề tạc tượng truyền thống.
Làng Bảo Hà xưa gọi là làng Linh Động thuộc địa phận xã Đồng Minh huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Hiện nay, trong miếu thờ của làng có thờ Đức Linh Lang, một vị tướng thời Trần. Ngoài ra còn có thờ tổ nghề tạc tượng của làng là Nguyên Công Huệ, người được thờ chung miếu với thành hoàng làng, là người tạc tượng giỏi, bị nhà Minh bắt đi phục dịch. Trong thời gian phục địch cho nhà Minh, người đã học được nhiều từ các bạn thợ của mình. Sau ngày nước ta thoát khỏi ách đô hộ cụ về làng, nghề tạc tượng Linh Động được phục hồi và phát triển. Người dân nơi này đã nhớ ơn cụ đã phục hồi và phát huy nghề tạc tượng của làng nên thờ cụ cùng miếu với thành hoàng làng. Các học trò và hậu duệ của cụ như Tô Phú Vượng, Hoàng Đình Ức,… đã phát triển nghề này và biến Linh Động trở thành một làng nghề tạc tượng nổi tiếng khắp vùng.
Sự nổi tiếng này thể hiện qua các sắc phòng của các triều vua cho Tô Phú Vượng (sắc Vĩnh Hựu, đời Lê năm thứ hai ngày 24 tháng 12) “ Sắc cho huyện thừa kỳ tài bá là Tô Phú Vượng vì làm việc lâu nay, cho làm huyện thừa, chức có thể làm Tiến Công Thứ Lang Huyện Thừa Huyện Gia Định”. Ngoài ra còn có các lệnh chỉ cho Tô Phú Vượng của vua Lê Cảnh Hưng; sắc phong của Hoàng Đình ức năm Cảnh Hưng thứ 32.
Hiện nay, cụm di tích lịch sử văn hoá miếu Ba Xã và chùa Mưỡu còn gìn giữ rất nhiều pho tượng đẹp, là những tác phẩm nghệ thuật có giá trị tiêu biểu cho một phong cách tạc tượng Việt Nam. Các tác phẩm điêu khắc ở đây mang một sắc thái riêng, nó gần gũi với cuộc sống đời thường. Đó là những pho tượng mỹ nữ chúm chím môi trái đào, tóc buông dài, vạt áo cài lệch. Rồi những pho tượng quan văn mặt đăm chiêu tư lự… Đặc biệt, có pho tượng đức thánh- hoàng tử- Linh Lang do đức tổ nghề tạo tác có cấu trúc các thành phần cơ thể theo nguyên tắc con rối, nên có thể đứng lên, ngồi xuống, giang tay, duỗi chân.
Nghề tạc tượng của Bảo Hà đã vượt ra khỏi biên giới của một làng, Các nghệ nhân tạc tượng làng Bảo Hà đã đi nhiều nơi trong và ngoài vùng như: Ninh Giang (Hải Dương), Tiên Lãng ( Hải Phòng), làng Nguyễn (Đông Hưng- Thái Bình)… để làm tượng chùa, làm quân rối cho các phường rối… Những tác phẩm tạc tượng do những nghệ nhân làng Bảo Hà làm ra mang có phong cách nghệ thuật riêng và rất độc đáo, và có uy tín, chiếm được cảm tình của nhiều nơi.
Bên canh nghề làm tạc tượng còn có nghề chạm khắc và biểu diễn quân rối cạn. Theo các cụ trong làng cho biết: sự ra đời của nghệ thuật rối cạn cổ truyền làng Bảo Hà là do chính nghề chạm khắc tượng của làng. Do nhận các “đơn đặt hàng” làm quân rối cho các phường rối mà các cụ nghĩ đến việc xây dựng một phường rối cạn, từ đó nghề rối đã ra đời. Hơn nữa, trong các trò chơi cổ truyền của làng còn được lưu giữ đến nay như: tổ tôm điếm, tam cúc điếm, thả đèn trờ, thả diều, làm con giống…. cũng ít nhiều liên quan đến nghề tạc tượng.
Đến Bảo Hà, người ta còn có thể thưởng thức rối nước của phường rối nước Minh Tân do nghệ nhân Đào Minh Tuân thành lập và đang hoạt động như một mô hình mới trong công tác bảo tồn vốn văn hóa cổ truyền..
Đi cùng với nghệ thuật múa rối nước, rối cạn, nghệ thuật tạc tượng, ở Đồng Minh còn có cơ sở khá quy mô của một hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp sơn mài, Những năm 1972- thời kỳ vàng son của nghề sơn mài, những mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao và khuyến khích tài năng của nghề cổ truyền này. Những tấm gỗ lát, gỗ tạp, những đoạn nứa dược các nghệ nhân làm nên những bức tranh, những khay, những đĩa sơn mài bóng loáng sâu thẳm và huyền ảo với những phòng cảnh quê hương những kỳ tích của đất nước…được các nghệ nhân trẻ thể hiện bằng chất liệu sơn mài tỉ mỉ, có giá trị nghệ thuật và giá trị kinh doanh cao trên thị trường.
Được khôi phục và phát triển trong vài năm gần đây, nghề điêu khắc làng Bảo Hà đang hứa hẹn trở lại thời kỳ hoàng kim đầy tự hào của ông tổ Nguyễn Công Huệ, Kỳ tài hầu Tô Phú Vượng, Cục phó nam tước Hoàng Đình Úc…
Làng Bảo Hà xưa gọi là làng Linh Động, thuộc địa phận xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Các vị cao niên trong làng kể lại, nghề điêu khắc gỗ và sơn mài ở Bảo Hà có từ lâu đời và được coi là cái nôi của nghề tạc tượng cả nước. Khoảng thế kỷ XV, cụ Nguyễn Công Huệ đã khai sinh ra nghề tạc tượng nơi đây và tên tuổi của cụ cũng gắn liền với lịch sử phát triển của nghề. Tương truyền, trong thời gian phục dịch cho nhà Minh, cụ đã học được nhiều từ các bạn thợ của mình. Sau ngày nước ta thoát khỏi ách đô hộ cụ về làng, nghề tạc tượng Linh Động được phục hồi và phát triển. Người dân nơi này nhớ ơn cụ đã phục hồi và phát huy nghề tạc tượng của làng nên thờ cụ cùng miếu với thành hoàng làng.
Tiếp thu, duy trì và phát huy những tinh hoa mà ông tổ Nguyễn Công Huệ để lại, hậu duệ của ông cũng chẳng phụ công thầy. Dưới các vương triều phong kiến, các nghệ nhân như Tô Phú Vượng được phong danh hiệu “Hoàng tín đại phu kỳ tài hầu”; nghệ nhân Tô Phú Luật được sắc phong “Diệu Nghệ Bá”; Hoàng Đình Úc được ban chức “Phụng thi tạc tượng cục, chuyên lưu ứng vụ, cục phó nam tước” tiếp tục làm rạng danh tên tuổi làng nghề Bảo Hà. Hiện nay, truyền thuyết và các sắc phong đang được lưu giữ trong nhà thờ các dòng họ Tô, họ Hoàng để ghi nhận tài năng, tầm vóc quốc gia của những nghệ nhân Bảo Hà. Nhắc đến Bảo Hà là nhắc đến những “bàn tay khắc gỗ nên vàng”, nghề điêu khắc của Bảo Hà đã trở nên nổi tiếng khắp nơi và trở thành nghề cổ truyền độc đáo trên quê hương Vĩnh Bảo – Hải Phòng.

Một trong những làng nghề truyền thống trên vùng đất cổ của Hải Phòng là làng nghề điêu khắc, sơn mài Bảo Hà (làng Bảo Hà, xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng). (Ảnh: TL)
Những người thợ ở Bảo Hà đã làm ra nhiều sản phẩm điêu khắc, chạm trổ phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Giai đoạn 1976 – 1980 là thời kỳ thịnh vượng của sản phẩm tranh, tượng Bảo Hà. Chỉ 40 thợ chạm khắc trong số 100 người ở Hợp tác xã thủ công – mỹ nghệ Đồng Tiến (xã Đồng Minh) đã có thu nhập bằng cả đội sản xuất nông nghiệp với 70 mẫu ruộng. Tuy nhiên, khi điều kiện kinh tế khó khăn, những người thợ điêu khắc, sơn mài thường bôn ba khắp nơi kiếm sống. Năm 2000, thực hiện chủ trương khôi phục và phát triển làng nghề, Hợp tác xã Thủ công nghiệp Đồng Minh được thành lập với sự hỗ trợ kinh phí của UBND TP. Hải Phòng để xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc, thiết bị sản xuất… Không những vậy, từ năm 2005, làng nghề tạc tượng Bảo Hà đã trở thành một trong những điểm đến của Chương trình du khảo đồng quê.
Ở làng nghề Bảo Hà, chúng ta được chứng kiến tận mắt các nghệ nhân chế tác những sản phẩm nổi tiếng như tượng thờ, hoành phi, câu đối, cuốn thư, đại tự, nhang án… Người làng Bảo Hà có những nhát đục tài hoa, dù chỉ được truyền dạy bằng “khẩu thủ” nhưng mang đậm tính nghệ thuật, nhất là tài năng xuất chúng của nghệ nhân Đỗ Văn Bưởng với những bức tượng truyền thần.

Trải qua bao thăng trầm, tới nay, các nghệ nhân của làng vẫn nỗ lực duy trì và phát triển nghề. (Ảnh: TL)
Những nét đặc trưng của các pho tượng ở đình Bảo Hà là dấu ấn rõ nét nhất về tài hoa của các nghệ nhân nơi đây. Các pho tượng được phủ màu và vẽ trang trí đạt tới trình độ hoàn hảo trong nghệ thuật tạo hình, tính hiện thực ở mỗi pho tượng đều thể hiện trình độ rất điêu luyện, xứng danh là quê hương của vị tổ sư có tài về tạc tượng. Theo các nghệ nhân của làng, tạc tượng không thể làm ẩu được mà phải bỏ ra nhiều công sức. Từ khúc gỗ mít, sau khi đã vạt đi phần vỏ để lấy lõi, người thợ phải đục đi đục lại, chỉnh sửa mất rất nhiều thời gian mới tạc thành tượng.
Nghề tạc tượng của Bảo Hà đã vượt ra khỏi biên giới của một làng, Các nghệ nhân tạc tượng làng Bảo Hà đã đi nhiều nơi trong và ngoài vùng như: Ninh Giang (Hải Dương), Tiên Lãng ( Hải Phòng), làng Nguyễn (Đông Hưng – Thái Bình)… để làm tượng chùa, làm quân rối cho các phường rối… Những tác phẩm tạc tượng do những nghệ nhân làng Bảo Hà làm ra mang phong cách nghệ thuật riêng và rất độc đáo, có uy tín, chiếm được cảm tình của nhiều nơi.

Những nét đặc trưng của các pho tượng ở đình Bảo Hà là dấu ấn rõ nét nhất về tài hoa của các nghệ nhân nơi đây.(Ảnh: TL)
Gần đây, để góp phần duy trì làng nghề, đồng thời quảng bá hình ảnh làng nghề tạc tượng với bạn bè quốc tế, Bảo Hà còn tạc tượng lưu niệm, mở shop bán tượng, đồ gỗ mỹ nghệ, tranh sơn mài… thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến tham quan.
Thanh Huyền
Làng Bảo Hà, xưa gọi là làng Linh Động, thuộc địa phận xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Nghề rối cạn ở đây được phát triển và lưu truyền từ 7 đời nay, bắt nguồn từ khoảng thế kỷ 16-17.
Những cái “độc” của rối cạn làng Bảo Hà
Rối cạn làng Bảo Hà đặc sắc bởi nó có sự khác biệt so với nghệ thuật múa rối ở các vùng khác và ở các nước khác trong khu vực.
Nghệ nhân Nguyễn Văn Tươm- Đội trưởng đội múa rối cạn vừa là người tạo hình con rối, vừa kiêm luôn diễn viên. Nói về công việc đã dành cả cuộc đời gắn bó, ánh mắt ông không giấu nổi niểm tự hào: “Nói đến múa rối cạn làng Bảo Hà, phải dùng đến chữ “độc” mới nói được hết cái chất của nó. Nhưng không phải độc đáo, mà là độc nhất”.
Ở nhiều nơi, các nghệ nhân dùng que ngoài để điều khiển rối. Tuy nhiên, que ngoài có khuyết điểm là lộ rất rõ, dễ nhìn thấy. Con rối truyền thống của làng Bảo Hà hoạt động được chỉ nhở vào một que duy nhất ở bên trong, nhưng vẫn không mất đi sự uyển chuyển, linh hoạt.
Cái “độc” nữa là về tạo hình. Các con rối khác thường được cách điệu hóa, nhưng các nghệ nhân làng Bảo Hà vẫn theo lối truyền thống của ông cha, luôn tạo hình nhân vật đậm chất dân gian, gần gũi với con người Việt Nam.
Vừa qua, “Rối cạn kể chuyện”- sự kiện nằm trong dự án Reimagine The Artist/Artisan – Tưởng tượng lại về nghệ sĩ/ nghệ nhân được tổ chức. “Rối cạn kể chuyện” nhằm mục đích đưa đến cho công chúng một cái nhìn khái quát, chân thực về chuyện nghề, chuyện người của làng rối truyền thống Bảo Hà.
Những trích đoạn “Tứ Linh”, “Đôi ngọc lưu ly” được lần lượt được trình diễn trước sự thích thú của khán giả ở mọi tầng lớp, lứa tuổi. Đặc biệt, sự kiện thu hút sự quan tâm của một số khán giả nước ngoài.
Bằng ánh mắt thích thú, các du khách nước ngoài chăm chú theo dõi màn biểu diễn từ đầu đến cuối. Mặc dù không hiểu hết lời hát, ý nghĩa nhưng họ vẫn dành cho các nghệ nhân sự thán phục và khen ngợi sự chuyển động linh hoạt, khéo léo của những con rối gỗ. Một nữ du khách chia sẻ, đây là cơ hội để cô hiểu thêm về những nét đẹp trong văn hóa truyền thống của Việt Nam.
Chứng kiến sự góp mặt của rất nhiều các bạn trẻ và người nước ngoài có niềm quan tâm với bộ môn nghệ thuật này, nghệ nhân Nguyễn Văn Tươm xúc động chia sẻ: “Tôi vô cùng hạnh phúc khi nhận được sự quan tâm của nhiều người, thậm chí của cả những khán thính giả trẻ. Tôi mong đây sẽ là tín hiệu đáng mừng cho bước phát triển của rối cạn trong tương lai”.
Tiền thù lao chỉ đủ xăng xe vẫn quyết tâm giữ nghề
Tình yêu đối với múa rối cạn của nghệ nhân Nguyễn Văn Tươm được nhen nhóm từ khi ông còn nhỏ. Vốn được sinh ra ở “đất” nghề điêu khắc, sơn mài, lại có niềm yêu thích các làn điệu chèo, dân ca, nên ngay từ năm 10 tuổi, ông đã nghe các cụ trong làng hát và tập theo.
Đến năm 17 tuổi, ông bắt đầu tham gia vào đội văn nghệ và liên tục duy trì đến nay. “Từ lúc ấy đến giờ, niềm đam mê trong tôi chưa bao giờ nguội tắt”, ông nói.
Nghệ sĩ Nguyễn Thị Oanh, người sắm vai Thị Phương trong trích đoạn chèo “Đôi ngọc lưu ly” cũng bồi hồi nhớ về cái duyên đến với nghề của mình. Chị ham thích văn hóa, văn nghệ từ “thuở lên ba” và đã sớm xác định sẽ đi theo con đường nghệ thuật truyền thống.
Tuy có một thời gian chị phải dừng đi diễn, nhưng: “Ai đã yêu, đã đam mê thì không thể dứt được. Kể cả như tôi, vì lí do cá nhân mà phải tạm dừng một thời gian, nhưng sau đó nhớ nghề vẫn phải quay trở lại”.
Tuy làng được biết đến với bề dày truyền thống tạc tượng và múa rối cạn, nhưng theo những nghệ nhân lớn tuổi, việc gìn giữ và phát huy những giá trị này là vô cùng khó khăn.
Nghệ nhân Nguyễn Văn Tươm tâm sự, ngày trước đoàn còn có hỗ trợ về kinh tế của địa phương nên cũng đỡ đi phần nào nỗi lo cho những người làm nghề. Nhưng hiện tại, đoàn phải tự lo mọi việc, không còn trợ cấp nên khá vất vả để phát triển rối cạn. “Cái chính là mình đam mê nên cố gắng theo nó, chứ để kiếm sống bằng nghề này thì không thể”
Mỗi buổi đi diễn xa, tiền thù lao chỉ vừa đủ xăng xe, trang phục và một chút tiền bồi dưỡng ở mức “bình dân” cho các nghệ nhân, có khi chỉ 100.000-200.000đ. Thậm chí những lễ hội ở đình làng, đoàn diễn còn không yêu cầu catse mà đều do các cụ “tùy tâm”. Chính vì vậy, phải là những người thật sự yêu nghề thì mới có thể duy trì.
Những nghệ nhân của làng Bảo Hà luôn đau đáu nỗi niềm tìm kiếm người có tâm, có tình với rối cạn để họ “truyền lửa”. Ở làng, không phải thế hệ trẻ đã hết quan tâm tới nghề truyền thống. Họ vẫn làm những việc như tạc tượng, điêu khắc, nhưng “chủ yếu là vì kinh tế”. Còn nếu nói đến nghệ thuật múa rối thì hiện đang thiếu nhân lực, thiếu những người trẻ để tiếp tục giữ lửa cho tương lai.
Hoàng Ngọc
(Truyền hình VTC14) – Từ xưa, làng Bảo Hà, thuộc xã Đồng Minh (Vĩnh Bảo – TP. Hải Phòng) đã nức tiếng khắp vùng bởi nghề tạc tượng. Trải qua bao thăng trầm, tới nay, các nghệ nhân của làng vẫn nỗ lực duy trì và phát triển nghề. Bằng bàn tay khéo léo và óc cải tiến sáng tạo, những người thợ Bảo Hà vẫn miệt mài sáng tạo và phát huy nghề truyền thống. Sự bền bỉ ấy như một mạch nguồn lưu giữ những nét đẹp văn hóa mà cha ông đã để lại.
Mang trong mình những giá trị truyền thống đặc sắc, sản phẩm điêu khắc gỗ – sơn mài của làng nghề Bảo Hà (xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng) được mọi người ưa chuộng. Đến nay, sản phẩm của làng nghề Bảo Hà đã được xuất khẩu ra các nước và vùng lãnh thổ như: Nga, Đức, Đài Loan…
Nghề điêu khắc gỗ, sơn mài ở Bảo Hà có lịch sử hơn 500 năm, trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử. Do chiến tranh, nạn đói… những người thợ Bảo Hà phải phiêu bạt khắp nơi để kiếm sống. Do đó, nghề điêu khắc gỗ – sơn mài truyền thống của làng có lúc bị mai một. Đến cuối thế kỷ XX, nhờ có chính sách của Đảng, Nhà nước, làng nghề truyền thống nơi đây dần được khôi phục.
Những người thợ lại có dịp trổ tài chạm khắc gỗ – sơn mài, tạo nên những tác phẩm nghệ thuật có giá trị thẩm mỹ cao, phục vụ đời sống tinh thần cho nhân dân, mang lại thu nhập khá cho người thợ. Từ đây, xuất hiện những người thợ tài hoa như: cụ Đào Trọng Đạm được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân điêu khắc; cụ Nguyễn Văn Thắng được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân sơn mài… Ngày nay, các thế hệ làng nghề Bảo Hà vẫn duy trì và phát triển làng nghề truyền thống. Năm 2007, UBND TP Hải Phòng công nhận làng nghề Bảo Hà là “Làng nghề truyền thống điêu khắc gỗ – sơn mài”.

Nghệ nhân tài hoa của làng nghề Bảo Hà đang tạc tượng.
Theo ông Bùi Văn Nhâm, Chủ tịch UBND xã Đồng Minh, Hiện nay, làng nghề Bảo Hà có gần 200 hộ với trên 200 lao động làm nghề điêu khắc, sơn mài. Trung bình, tổng giá trị sản xuất từ nghề đem lại gần chục tỷ đồng/năm. Các xưởng lớn trong làng có thu nhập khoảng từ 40 – 50 triệu đồng/tháng. Sản phẩm chủ yếu của làng nghề là: đồ thờ như tượng, truyền thần, nhang án, hoành phi, câu đối, cửa võng, tranh ảnh sơn mài…
Trước đây, làng nghề chỉ làm trong 3 tháng trong năm (từ tháng 8 đến tháng 11). Những năm gần đây, khi nhu cầu của thị trường gia tăng, làng bận rộn quanh năm với nhiều đơn hàng. Những người thợ làm việc suốt ngày đêm không ngơi nghỉ. Đến nay, sản phẩm của Bảo Hà đã có mặt tại nhiều tỉnh, thành trong nước và được xuất khẩu ra nước ngoài.
Theo nhiều khách hàng, bàn tay khéo léo của người thợ làng Bảo Hà tạo nên những đường nét chạm khắc mang phong cách rất riêng, rất “có hồn”. Mỗi sản phẩm mang những giá trị truyền thống được kết tinh từ đôi bàn tay tài hoa, sự sáng tạo của bao thế hệ người thợ Bảo Hà.

Với người thợ Bảo Hà, từ khi là anh phó học nghề đến khi mắt quen nhìn và nhập tâm từng mẫu tượng đòi hỏi sự kiên trì rèn luyện tay nghề trong thời gian dài. Khi hợp đồng vừa đưa đến, trong đầu người thợ đã hình thành tư thế tượng; cách tạo dáng; kích cỡ… Tuy đạt đến mức “thuận mắt quen tay” nhưng mỗi công đoạn không vì thế mà người thợ làm cẩu thả, chủ quan, trái lại rất khoa học. Điển hình, việc đẽo gọt từng bộ phận rồi chắp lại cho khít hay công đoạn sơn được người thợ làm cẩn thận để tạo ra được màu “sơn son thếp vàng” bền vững qua năm tháng không bị bào mòn.
Không chỉ có bàn tay tài hoa, tính cần cù, những người thợ của làng còn đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng trong và ngoài nước. Những xưởng điêu khắc, sơn mài của làng Bảo Hà còn là nơi đào tạo nhiều thợ ở các tỉnh, thành lân cận. Họ tìm đến Bảo Hà học nghề rồi trở về quê mở xưởng, mang theo “phong cách Bảo Hà” tới muôn phương.
Với những nét đặc sắc riêng có, làng nghề Bảo Hà trở thành một địa điểm thú vị trong chương trình “Du khảo đồng quê” của du khách khi về Hải Phòng tham quan du lịch.
Ngoài những đồ thờ có tính cổ điển khuôn mẫu, các nghệ nhân nơi đây còn sáng tạo thêm tượng truyền thần. Rất nhiều người ngưỡng mộ tượng truyền thần Bảo Hà vì mỗi bức tượng rất chân thật, có “hồn”. Trên đó, người nghệ nhân thể hiện được khí chất, tính cách của những con người bình thường. Điều đó càng khẳng định sự khéo léo của người thợ Bảo Hà. Sau khi nhận ảnh của khách, nghệ nhân suy nghĩ, phác thảo tượng rồi chọn gỗ theo kích thước khách đặt hàng.
Nghệ nhân Bảo Hà thường dùng gỗ mít để tạc tượng truyền thần vì loại gỗ này mềm, dẻo, chống mối mọt, không chịu nhiều tác động của nước, lại dễ kiếm và không đắt như các loài gỗ quý khác. Nghệ nhân sáng tạo từng phần của tượng rồi mới ghép các bộ phận thành bức tượng hoàn chỉnh. Cái tài hoa của người thợ Bảo Hà là tượng truyền thần do họ tạc nên không những giống hệt ảnh mà từng tượng đều có thần thái riêng. Với bức tượng có “hồn” này, người thợ làm nhẵn bề mặt tượng rồi mới sơn nhiều lớp, thếp bạc, lọng son cho tượng gỗ. Cuối cùng là vẽ tóc râu, mắt mũi… và sơn màu quần áo cho tượng. Các nghệ nhân cho biết, phải mất chừng 10 ngày để đục đẽo tượng và khoảng 5 ngày để sơn vẽ hoàn thiện bức tượng truyền thần.
Ông Nguyễn Văn Điềm, cán bộ phụ trách phát triển ngành nghề của UBND xã Đồng Minh cho biết, do là nghề truyền thống nên việc đào tạo nghề ở Bảo Hà chỉ là “cha truyền con nối” chứ người thợ không được đào tạo cơ bản. Vì thế, nhận thức của người thợ về kỹ thuật, mỹ thuật, tiếp thị, thị trường,… còn nhiều hạn chế. Công cụ sản xuất cũng còn lạc hậu, hình thức sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún…
Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh ngày nay, việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm điêu khắc gỗ, sơn mài Bảo Hà đang được đặt ra cấp thiết, nhằm tránh đánh mất thương hiệu hoặc bị giả mạo. UBND xã Đồng Minh đang nộp đơn lên Cục Sở hữu trí tuệ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm truyền thống của Bảo Hà.
Để duy trì và phát triển làng nghề truyền thống, UBND xã Đồng Minh phối hợp với Trung tâm Khuyến công Hải Phòng, Trung tâm Dạy nghề huyện Vĩnh Bảo tổ chức các lớp đào tạo, nâng cao tay nghề cho người thợ Bảo Hà, tổ chức cuộc thi tay nghề và sáng tạo sản phẩm thủ công mỹ nghệ…
UBND xã động viên, khuyến khích các hộ làm nghề tham gia triển lãm hàng thủ công mỹ nghệ, quảng bá sản phẩm, tạo điều kiện cho hộ làm nghề tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ việc làm. Đặc biệt, UBND xã Đồng Minh quy hoạch khu sản xuất nghề tập trung với diện tích 8,6 ha tại xứ Đồng Kênh, làng Quyết Tiến. Dự án này được UBND TP Hải Phòng phê duyệt quy hoạch xây dựng 3,8ha. Hy vọng, với những nỗ lực của địa phương, làng nghề tạc tượng Bảo Hà sẽ ngày càng phát triển, đưa sản phẩm ra nhiều thị trường ngoài nước…
Theo Đăng Hùng & Hân Minh – CAND
Bảo Hà nằm ở địa phận xã Đông Minh, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Làng có nghề truyền thống điêu khắc tượng tới nay đã hơn 500 năm tuổi.
Làng tạc tượng Bảo Hà được coi là cái nôi của nghề tạc tượng Việt Nam. Theo truyền thuyết được lưu truyền tại làng thì vào thế kỷ thứ XV, khi nhà Minh đô hộ Việt Nam ( 1407-1427) đã bắt thanh niên trai tráng đưa sang Trung Quốc làm việc tại các xưởng sản xuất, xây dựng lăng tẩm, đền đài. Một trong số những thanh niên ngày đó bị bắt có Nguyễn Công Huệ – người đã học được nghề tạc tượng và sản mài. Sau khi hồi hương, Nguyễn Công Huệ đã truyền lại nghề này cho dân làng. Khi ông mất, dân làng Bảo Hà nhớ ơn lập miếu, tạc tượng và tôn thờ ông như tổ sư của nghề.
Với hơn 500 năm tồn tại và phát triển, làng tạc tượng Bảo Hà từ lâu đã trở thành ngôi làng nổi tiếng với nghề truyền thống độc đao; gắn liền với nhiều hoạt động văn hóa, du lịch của vùng đồng bằng sông Hồng.

Ngay trong thời kỳ phong kiến, nghề tạc tựng Bảo Hà đã nổi tiếng khắp xứ Đông, có nhiều nghệ nhân giỏi được triều đinh trọng dụng, đã từng tạc ngai vàng cho vua. Các nghệ nhân tạc tượng làng Bảo Hà đã đi nhiều nơi trong và ngoài vùng như: Ninh Giang (Hải Dương), Tiên Lãng ( Hải Phòng), làng Nguyễn (Đông Hưng- Thái Bình)… để làm tượng chùa, làm quân rối cho các phường rối… Những tác phẩm tạc tượng do những nghệ nhân làng Bảo Hà làm ra mang có phong cách nghệ thuật riêng và rất độc đáo, và có uy tín, chiếm được cảm tình của nhiều nơi.
Dù hiện nay, làng Bảo Hà đã phát triển thêm nhiều sản phẩm khác nhưng trong lịch sử Bảo Hà đã có tới hơn nửa thiên niên kỷ chuyên tạc tượng Phật. Bên cạnh đó, tinh hoa của làng nghề còn có đôi tượng phỗng – được đặt tại rất nhiều miếu thờ trong vùng.

Những pho tượng gỗ làng Bảo Hà không chỉ tinh xảo về đường nét chạm khắc mà còn có hồn nhờ vào đôi ban tay tài hoa của những nghệ nhân nơi đây. Để tạo nên một pho tượng không hề đơn giản, đầu tiên là phải có chất liệu. Tuy có nhiều loại gỗ có thể sử dụng để tạc tượng như: dối, xoan, sung… nhưng loại gỗ được ưa thích nhất là gỗ mít – loại gỗ vừa mềm, vừa chống được mối mọt, ít bị tác động của nước, lại dễ kiếm và không quá đắt như những loại gỗ quý khác. Tiếp đó từng phần của tượng được cắt gọt, chạm sau đó đến công đoạn sơn, phải sơn nhiều lớp rồi thếp bạc, lọng son, vẽ râu, mắt mũi, sơn màu trang phục…Bức tượng khi hoàn thiện phải đảm bảo nhìn có hồn, trang phục sắc nét, tổng thể sống động và có thần thái riêng. Các nghệ nhân làng Bảo Hà không bao giờ vội vã hay qua loa khi hoàn thành một tác phẩm ngay cả khi đơn đặt hàng nhiều và khách hàng hôi thúc. Thông thường để hoàn thiện một bức tượng phải mất từ 2 tuần tới 1 tháng tùy vào kích thước cũng như nội dung của bức tượng. Thời gian đục đẽo tượng mất khoảng 10 ngày, thời gian sơn vẽ thêm chừng 5 ngày nữa là có một tác phẩm hoàn thiện.
Bên canh nghề làm tạc tượng, làng Bảo Hà còn có nghề chạm khắc và biểu diễn quân rối cạn. Các cụ cao niên trong làng kể rằng: Sự ra đời của nghệ thuật rối cạn cổ truyền làng Bảo Hà xuất phát chính nghề chạm khắc tượng rất nổi tiếng gần xa của làng. Từ hàng trăm năm trước, các bức tượng của làng Bảo Hà đã nổi tiếng, từ đó làng nhận nhiều “đơn đặt hàng” làm quân rối cho các phường rối. Người dân trong làng thấy thú vị và nghĩ đến việc xây dựng một phường rối cạn để phục vụ đời sống tinh thần cho chính dân làng mình, từ đó nghề rối đã ra đời.

Đến Bảo Hà hôm nay, du khách có thể tìm hiểu về quy trình sản xuất một bức tượng. Bên cạnh đó còn có thể thưởng thức rối nước của phường rối nước Minh Tân do nghệ nhân Đào Minh Tuân thành lập và đang hoạt động như một mô hình mới trong công tác bảo tồn vốn văn hóa cổ truyền./.
Theo Cinet
Xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng) là địa phương giàu truyền thống cách mạng và văn hóa. Nơi đây còn được ghi nhận như là “cái nôi” của nghề khắc gỗ truyền thống.
Mặc bao biến cố, thăng trầm của thời gian, mạch ngầm văn hóa cổ truyền ở nơi đây vẫn không ngừng chảy và nó đang trở thành “điểm nhấn” trong xây dựng nông thôn mới (NTM) ở địa phương này.
Bàn tay khắc gỗ nên vàng
Ở Bảo Hà ngày nay vẫn lưu truyền câu chuyện cổ kể về ông tổ làng nghề Nguyễn Công Huệ. Chuyện kể rằng: Vào thế kỷ thứ XV, Nguyễn Công Huệ khi đó còn nhỏ, nhưng đã có biệt tài làm các con giống ngộ nghĩnh bằng các vật dụng có sẵn trong vườn nhà. Những gốc tre gai góc, những gốc mít xù xì, được cậu đục đẽo thành hình long, ly, quy, phượng; từ củ chuối, gốc sắn đến sơ mướp, gáo dừa… cũng được cậu uốn gọt thành ông Bụt, ông phỗng…

Nối tiếp nhau, các nghệ nhân từ thời phong kiến đến nay luôn được phong tặng những danh hiệu cao quý, như: Nghệ nhân Tô Phú Vượng được phong “Hoàng tín đại phu kỳ tài hầu”; Nghệ nhân Tô Phú Luật được phong “Diệu nghệ bá”; Hoàng Đình Ức được ban chức “Phụng thi tạc tượng cục”, chuyên lưu ứng vụ, Cục phó Nam tước… Tất cả làm rạng danh làng nghề Bảo Hà. Hiện, truyền thuyết và các sắc phong đang được lưu giữ trong nhà thờ các dòng họ Tô, họ Hoàng để ghi nhận tài năng mang tầm vóc quốc gia của những nghệ nhân Bảo Hà.Tài hoa của Nguyễn Công Huệ được truyền tụng khắp nơi. Giặc Minh (lúc bấy giờ đang đô hộ nước ta) biết chuyện, ngoài càn quét, chúng vơ vét đưa về bản xứ những thợ giỏi, trong đó có Nguyễn Công Huệ. Sau 10 năm khổ sai nơi xứ người, ông trở về làng xưa, truyền lại cho dân làng 4 nghề học được: Điêu khắc gỗ, sơn mài, dệt vải và ngải cứu (châm cứu bằng lá ngải).
Điều đáng nói, từ nhóm thợ tài ba thuở ấy, đã phát triển thành những phường thợ tỏa đi khắp nơi, sáng tạo nhiều tượng thờ nổi tiếng ở khắp các miền quê trên cả nước, trong đó có hệ thống tượng thờ tại cụm Di tích Lịch sử văn hóa cấp quốc gia miếu và chùa làng Bảo Hà. Có thể nói, nơi đây đã hội tụ tất cả tài năng, trí tuệ, tâm tư, khát vọng của người dân địa phương, đặc biệt của người thợ nghề sơn mài, điêu khắc gỗ. Từ long đình, bài vị, hương án, đến các tượng quan văn, quan võ, tố nữ, ông phỗng… tất cả không chỉ lấp lánh màu son, thếp bạc dù đã trải hàng trăm năm, mà còn rất “có hồn”.
“Điểm nhấn” xây dựng nông thôn mới
Tuy là địa phương có ngành nghề truyền thống sơn mài, điêu khắc, dệt chiếu cói… nhưng phần đông lao động ở Đồng Minh vẫn làm nông nghiệp trồng cấy, chăn nuôi. Trong khi đó, ruộng đất lại manh mún. Đây là những trở ngại lớn cho quá trình xây dựng NTM trên địa bàn xã. Chưa kể, nghề truyền thống phát triển, nhưng phần đông lao động lại chưa qua đào tạo mà chỉ làm dựa theo kinh nghiệm tích lũy được.
Chính bởi lẽ này, cấp ủy, chính quyền xã Đồng Minh xác định cần phải lấy việc phát triển ngành nghề truyền thống làm đòn xeo, thúc đẩy xây dựng NTM. Nhưng muốn vậy, ngoài quy hoạch lại nông thôn, đồng ruộng, cần phải tập trung đào tạo nghề cho nông dân.
Về quy hoạch, theo ông Bùi Văn Nhâm – Chủ tịch UBND xã Đồng Minh cho biết, hiện địa phương chưa làm xong quy hoạch về nông thôn để thực hiện phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa dân tộc.
Riêng về đào tạo nghề, cũng theo ông Nhâm, tính đến thời điểm cuối năm 2011, Đồng Minh có xấp xỉ 4.600 lao động, trong đó lao động trong độ tuổi lĩnh vực nông nghiệp là hơn 2.000 người (chiếm gần 45%), trong khi tiêu chí đặt ra là lao động nông nghiệp chỉ còn dưới 25%. Như vậy, cần phải cơ cấu lại lao động, nhưng đồng thời cũng phải khẩn trương bắt tay vào việc đào tạo để nâng cao tay nghề cho lao động địa phương, nhất là nghề điêu khắc gỗ.
Cho dù mới đạt 5/19 tiêu chí xây dựng NTM, nhưng với đề án đã được xây dựng mà “điểm nhấn” là duy trì và phát triển làng nghề truyền thống, chắc chắn việc xây dựng NTM ở Đồng Minh sẽ thuận lợi cơ bản, thậm chí cán đích sớm.
Theo Thu Ngân (Báo Dân Việt)
Từng có trên 60 làng nghề với 20 loại hình nghề khác nhau, trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, đến nay Hải Phòng còn hơn 30 làng nghề, trong đó có 12 làng được UBND thành phố cấp bằng công nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn. Không ít những làng nghề tưởng chừng mai một nhưng nay đang hồi sinh, góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế xã hội cũng như gìn giữ các giá trị văn hoá truyền thống.

Đã từ lâu, làng tạc tượng Bảo Hà (xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo) nổi tiếng với nghề điêu khắc gỗ mang đậm dấu ấn bản sắc dân tộc. Là một làng nghề hơn 700 năm tuổi, Bảo Hà vừa lưu giữ được những giá trị truyền thống vừa mang trong mình dáng dấp của một làng quê đang đổi mới từng ngày.
Các vị cao niên trong làng kể lại, nghề điêu khắc gỗ và sơn mài ở Bảo Hà có từ lâu đời và được coi là cái nôi của nghề tạc tượng cả nước. Khoảng thế kỷ XV, cụ Nguyễn Công Huệ đã khai sinh ra nghề tạc tượng nơi đây và tên tuổi của cụ cũng gắn liền với lịch sử phát triển của nghề. Hiện nay, tại miếu Cả ở làng Bảo Hà vẫn lưu giữ tượng chân dung cụ Nguyễn Công Huệ mà tương truyền là do chính tay cụ tạc.
Hiện Bảo Hà có 973 hộ thì có tới gần 500 hộ làm các ngành nghề phi nông nghiệp. Trong đó, chủ yếu là chuyên nghề điêu khắc gỗ, với khoảng 20 cơ sở sản xuất tập trung. Cuộc sống của người dân làng nghề đang từng ngày “thay da đổi thịt”.

Bảo Hà không chỉ nổi tiếng với nghề tạc tượng, độc đáo với nghề làm nhạc cụ dân gian mà còn được biết đến với nghề dệt chiếu có từ lâu đời. Tuy nhiên, cái hay của nghề làm chiếu ở Bảo Hà là đã tập trung được các hộ sản xuất nhỏ lẻ vào hợp tác xã. Sau khi HTX ra đời đã thu hút được sự tham gia của hàng chục hộ làm chiếu trên địa bàn xã. Không chỉ giúp giữ nghề truyền thống, HTX còn góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông nhàn tại địa phương. Người thợ làm chiếu bây giờ không còn phải lo tìm đầu ra cho sản phẩm mà chỉ tập trung làm nghề, dồn tâm huyết dệt nên những sản phẩm chất lượng cao. Ở Bảo Hà, nghề làm chiếu bận rộn quanh năm, đến tháng Chạp thì không khí sản xuất càng nhộn nhịp, khẩn trương. Người thợ như chạy đua với thời gian để đảm bảo đúng hẹn giao hàng cho khách. Công việc ngày cuối năm dù có bận rộn hơn nhưng ai nấy cũng đều phấn khởi vì có thêm phần thu nhập để sắm tết.
Bằng sự tài hoa và tâm huyết với nghề, những lớp thợ tạc tượng, làm chiếu của làng Bảo Hà đã từng ngày khôi phục nghề truyền thống của quê hương. Việc UBND thành phố công nhận Bảo Hà là làng nghề truyền thống đạt tiêu chuẩn của Bộ NN&PTNT đã khẳng định những nỗ lực và đóng góp không mệt mỏi của lớp lớp những người thợ tài hoa xưa và nay. Bên cạnh những làng nghề quy mô xã, trên địa bàn thành phố còn có hàng chục làng nghề ở quy mô thôn. Có thể nói, dù còn tồn tại nhiều khó khăn, bất cập, song các làng nghề này đã góp phần giải quyết việc làm, nâng cao đời sống người dân, thúc đẩy tiến trình xây dựng nông thôn mới.
Đến với làng hoa ở các xã Đặng Cương, Đồng Thái, Lê Lợi của huyện An Dương mới thấy thiên nhiên đã rất ưu đãi cho mảnh đất và con người nơi đây. Với sự chịu thương, chịu khó, sự khéo léo, sáng tạo, người nông dân nơi đây đã biến những cánh đồng trồng lúa thu nhập thấp sang trồng đào và nhiều loài hoa có giá trị kinh tế cao. Bên cạnh những cây trồng truyền thống, những loài hoa cho giá trị kinh tế cao đã được người dân đưa vào trồng đại trà như hoa ly, hoa layơn Pháp, hoa loa kèn trái vụ Đan Mạch.
Làng nghề Lật Dương, xã Quang Phục, huyện Tiên Lãng có từ thế kỷ XVII với sản phẩm chiếu cói được trong và ngoài thành phố biết đến. Doanh thu hàng năm của làng nghề có thời đạt từ 10 – 12 tỷ đồng/ năm. Trước thử thách nghiệt ngã của cơ chế thị trường, không biết bao nhiêu người ở bao nhiêu nơi đã bỏ nghề dệt chiếu, thì người Lật Dương chẳng những giữ được nghề, mà còn đưa nó thành thương hiệu “Chiếu cói Lật Dương” nổi tiếng khắp vùng Hải Phòng, Hải Dương, ra tới Quảng Ninh, lên tận Bắc Ninh, Bắc Giang. Sau một thời gian dài mai một, giờ đây làng nghề dệt chiếu cói Lật Dương xã Quang Phục (huyện Tiên Lãng) đã trở lại không khí nhộn nhịp, tạo sắc thái mới cho một làng nghề dệt chiếu truyền thống.
Làng nghề Bảo Hà, chiếu cói Lật Dương cùng nhiều làng nghề khác được UBND thành phố cấp bằng công nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn mới đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt của các làng nghề truyền thống tại Hải Phòng. Vẫn biết phía trước còn nhiều khó khăn, song với sự nỗ lực của những nghệ nhân, những con người tâm huyết với nghề; cùng sự trợ giúp của các ngành chức năng, các làng nghề của Hải Phòng sẽ đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển kinh tế, xã hội và mãi là nơi bảo tồn, lưu giữ những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc.
(Theo dulichvietnam)