Vì sao pho tượng cổ 700 năm tuổi tọa lạc trong miếu Bảo Hà ở Hải Phòng biết “ngồi xuống đứng lên”?

Pho tượng tại miếu Bảo Hà (thôn Bảo Hà, xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng), thờ Đức Linh Lang Đại vương trong tư thế ngồi trên ngai, tay cầm văn tự có thể chuyển động, đứng lên một cách nhẹ nhàng, khoan thai, rồi lại từ từ ngồi xuống được xem là một trong số những pho tượng kỳ lạ, độc nhất vô nhị tại Việt Nam.

Từ xa xưa, làng Bảo Hà (xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo) là một địa danh nổi tiếng ở TP Hải Phòng về nghề truyền thống như tạc tượng, múa rối.

Bí ẩn pho tượng ngàn năm tuổi biết đứng lên, ngồi xuống - Ảnh 1.

Pho tượng Đức Linh Lang Đại vương tọa lạc tại miếu Bảo Hà (thôn Bảo Hà, xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng) có thể “đứng lên, ngồi xuống”

Tương truyền, cụ Nguyễn Công Huệ là người có công sáng lập, truyền dạy nghề tạc tượng cho dân làng Đồng Minh.

Những năm giặc Minh đô hộ nước ta, cụ Huệ bị bắt đi phục dịch ở Quan Xưởng, Trung Quốc. Trong thời gian đó, cụ đã chú tâm học nghề chạm khắc, sơn mài và châm cứu. Đến đời Lê Nhân Tông (1443 – 1459), cụ Huệ trở về quê và dạy nghề tạc tượng cho dân làng. Mọi người suy tôn cụ là Tổ nghề tạc tượng và được phối thờ tại miếu Bảo Hà.

Cho đến giờ, người dân Đồng Minh vẫn lưu truyền giai thoại “7 hạt gạo nếp tạc thành đàn voi” của người thợ tạc tượng Tô Phú Vượng. Ông là một trong những học trò nổi tiếng tài hoa của cụ Huệ. Vua Lê Cảnh Hưng đã vời ông Vượng vào cung tạc ngai vàng

Sau khi tạc xong ngai vàng, ông sung sướng đã tạo ra một kiệt tác nên ngồi thử. Bị thái giám phát hiện và tâu với nhà vua, ông Vượng bị khép tội “khi quân phạm thượng”, nhốt vào ngục tối chờ ngày xử trảm. Sống trong ngục mấy hôm, ông Vượng cảm thấy “ngứa nghề”. Thấy những cọng rơm nếp còn sót lại một vài hạt thóc, ông liền lấy tay bóc, chuốt 7 hạt gạo nếp thành 7 con voi với các tư thế khác nhau.Chuyện về đàn voi tí hon truyền đến khắp nơi, nhà vua biết chuyện, cảm phục cái tài của người thợ tạc tượng tài hoa, đã quyết định tha bổng, phong ông Tô Phú Vượng tước “Kỳ tài hầu” và cho về quê mở mang, lưu truyền nghề nghiệp.

Theo thần phả, Linh Lang là con vua Lý Thánh Tông sinh vào tháng Chạp, năm Giáp Thìn (1064), được đặt tên là Hoằng Chân, mẹ là cung phi thứ 9. Linh Lang được sinh ra tại làng ở Trị Chợ, Thủ Lệ (quận Ba Đình, TP Hà Nội ngày nay). 

Khi giặc Tống xâm lược nước ta, Hoàng tử Linh Lang chỉ huy quân sĩ chống giặc. Trong một đợt hành quân, ngài tới trang Linh Động (làng Bảo Hà ngày nay) dựng đồn binh, luyện tập binh sĩ, tuyển mộ quân. 

Về sau này, để tưởng nhớ công ơn của ngài, dân làng xây miếu thờ trên nền đồn binh xưa. Các triều đại phong kiến sau này như đời vua Cảnh Thịnh, Tự Đức, Duy Tân và Khải Định đều phong sắc cho ngài là Thượng Đẳng thần, dân làng Bảo Hà tôn ngài là Thành hoàng và tạc tượng thờ.

Ông Đặng Văn Thạnh (70 tuổi), thủ từ miếu Bảo Hà, cho hay miếu Bảo Hà còn có tên gọi khác là Tam Xã Linh Từ. Sở dĩ có tên gọi như vậy là do từ cuối thế kỷ 13, miếu được nhân dân 3 xã Hà Cầu, Bảo Động, Mai An xây lên.

Trải qua các thời kỳ nhà Lê, Nguyễn…miếu Bảo Hà được trùng tu và mở rộng dần. Đến đời vua Thành Thái (1889-1907) là lần trùng tu cuối cùng nên miếu hiện nay mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn nhiều hơn.

Theo cán bộ văn hóa xã Đồng Minh, bức tượng đặt biệt tại miếu có từ thế kỷ 13, tuổi đời trên 700 năm với nét độc đáo và kỳ lạ. Không giống các pho tượng được đặt trong các đền đài, miếu mạo, pho tượng thờ Đức Linh Lang Đại vương ở miếu Bảo Hà (xã Đồng Minh) được tạc cao khoảng 1,7 m như người thật, nét mặt khôi ngô, đầu đội vương miện, mình khoác áo lụa bào trong tư thế ngồi trên ngai, tay cầm văn tự.

Vị cán bộ văn hóa xã Đồng Minh cho hay pho tượng là sự kết hợp tinh túy của nghệ thuật dân gian và nghệ thuật hiện đại, đây cũng là một bảo tồn nhỏ của môn nghệ thuật múa rối truyền thống của làng Bảo Hà.

Bí ẩn pho tượng ngàn năm tuổi biết đứng lên, ngồi xuống - Ảnh 2.

Bí ẩn pho tượng ngàn năm tuổi biết đứng lên, ngồi xuống - Ảnh 3.

Pho tượng kỳ lạ tạc Đức Linh Lang Đại vương tọa lạc tại miếu Bảo Hà (thôn Bảo Hà, xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng) tại miếu Bảo Hà có thể chuyển động, đứng lên, ngồi xuống một cách nhẹ nhàng, khoan thai.

Vị này cũng “bật mí” pho tượng có thể đứng lên, ngồi xuống là nhờ hoạt động theo nguyên lý “cánh tay đòn” gồm hệ thống ròng rọc, khớp nối hoàn toàn bằng một loại gỗ đặc biệt nằm trong căn hầm phía dưới cung cấm mà đến nay người dân địa phương vẫn chưa thể biết đó là loại gỗ gì.

Bí mật của sự chuyển động của bức tượng Đức Đức Linh Lang Đại vương nằm ở cánh cửa của điện thờ nơi có bức tượng. Các nghệ nhân tạc tượng xưa khéo léo kết hợp giữa nghệ thuật tạc tượng và nghệ thuật múa rối cạn, làm ra hệ thống truyền lực kéo đẩy nối giữa cánh cửa với các khớp của pho tượng. Vì vậy, khi mở, cánh cửa sẽ truyền lực lên pho tượng. Bức tượng dần đứng lên và ngược lại, khi cửa khép lại thì bức tượng lại trở về tư thế ngồi ban đầu. Để đóng, mở cánh cửa để bức tượng đứng lên ngồi xuống, chỉ có người quản lý miếu Bảo Hà mới có thể làm thuần thục. Sự chuyển động của bức tượng khiến cho những người đến đây trầm trồ khen ngợi về sự tài hoa của người thợ làng Bảo Hà, khiến ngôi miếu này trở nên linh thiêng, kì bí.

(Theo Báo Dân Việt)

Làng tạc tượng Bảo Hà – Nơi lưu giữ tinh hoa văn hóa Việt

Hải Phòng nổi tiếng với nhiều làng nghề truyền thống lâu đời, độc đáo và giá trị, như làng đúc Mỹ Đồng, làng hoa Hạ Lũng… và làng tạc tượng Bảo Hà, một ngôi làng có lịch sử hơn 500 năm, được coi là cái nôi của nghề tạc tượng Việt Nam. Với những nét độc đáo riêng, làng nghề điêu khắc gỗ Bảo Hà đã trở thành một điểm đến thú vị của du khách trong và ngoài nước.

Hải Phòng nổi tiếng với nhiều làng nghề truyền thống lâu đời, độc đáo và giá trị, như làng đúc Mỹ Đồng, làng hoa Hạ Lũng… và làng tạc tượng Bảo Hà, một ngôi làng có lịch sử hơn 500 năm, được coi là cái nôi của nghề tạc tượng Việt Nam. Với những nét độc đáo riêng, làng nghề điêu khắc gỗ Bảo Hà đã trở thành một điểm đến thú vị của du khách trong và ngoài nước.

Nằm cách tuyến đường nối từ cầu Lạng Am đến cầu Nhân Mục gần 3 km, làng Bảo Hà (một thời có tên là Linh Động) trực thuộc xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, vùng đất địa linh nhân kiệt của thành phố Hải Phòng nơi không chỉ nổi tiếng với truyền thống hiếu học và tôn vinh những giá trị truyền thống.

Nói Bảo Hà là cái nôi tạc tượng của Việt Nam bởi nghề tạc tượng tại Bảo Hà đã có lịch sử hình thành và phát triển rất lâu đời. Theo truyền thuyết được lưu truyền tại làng thì từ hơn 600 năm trước, vào thế kỷ thứ XV, khi nhà Minh đô hộ Việt Nam (1407-1427), đãbắt hàng loạt các thanh niên trai tráng với mục đích đưa sang bên kia biên giới phục vụ cho công cuộc xây dựng các lăng tẩm, đền đài… của họTrong số đó có chàng trai Nguyễn Công Huệ, người con của làng Bảo Hà, người đã học được kỹ thuật tạc tượng và sơn mài vô cùng quý báu. Sau khi hồi hương, Nguyễn Công Huệ đã chia sẻ, truyền dẫn lại những kỹ năng, hiểu biết và cả sự đam mê của mình với nghề tạc tượng cho người thân trong gia đình, dòng tộc và dân làng Bảo Hà. Kể từ đó, ngoài việc đồng áng, người làng Bảo Hà đã có thêm nghề mưu sinh mới là tạc tượng và làng cũng rất nhanh chóng trở nên nổi tiếng không chỉ trong phạm vi vùng châu thổ sông Hồng với nghề tạc tượng Phật. Khi ông mất, dân làng Bảo Hà nhớ ơn lập miếu, tạc tượng và tôn thờ ông như tổ sư của nghề. Ngôi miếu này ngày nay vẫn tồn tại và quanh năm luôn nồng ấm khói hương, như một minh chứng tự nhiên và rõ nét cho sức sống mãnh liệt của làng nghề cùng những giá trị tinh hoa mang tính truyền thống của nghề tạc tượng tại nơi đây.

Miếu Bảo Hà, nơi thờ Linh Lang Đại Vương và ông tổ của nghề tạc tượng Nguyễn Công Huệ (Ảnh: sưu tầm)

Đức Linh Lang Đại Vương, do Nguyễn Công Huệ tạc. Bức tượng có tuổi đời hơn 500 năm này có thể được coi là độc nhất vô nhị tại Việt Nam, bởi sự kết hợp giữa nghệ thuật điêu khắc và múa rối, khiến tượng có thể đứng lên ngồi xuống được(Ảnh: sưu tầm)

Trong thời kỳ phong kiến, nghề tạc tượng tại Bảo Hà luôn được duy trì và phát triển nức tiếng khắp xứ Đông;làng có nhiều nghệ nhân giỏi được coi là kỳ tài của nghề, được triều đình trọng dụng, được giao tạc ngai vàng cho vua. Nhiều người được các triều đại Việt Nam sắc phong như: Hoàng tín đại phu kỳ tài hầu Tô Phú Vượng, Diệu Nghệ Bá Tô Phú Luật, Phụng thi tạc tượng cục, chuyên lưu ứng vụ, cục phó nam tước Hoàng Đình Úc… Các nghệ nhân tạc tượng làng Bảo Hà đã đi nhiều nơi trong và ngoài vùng như: Ninh Giang (Hải Dương), Tiên Lãng (Hải Phòng), Đông Hưng (Thái Bình)… để tạc tượng cho các chùa lớn, làm quân rối cho các phường rối nổi tiếng… Những tác phẩm do họ làm ra mang phong cách nghệ thuật độc đáo, có uy tín về chất lượng chiếm được cảm tình của đông đảo mọi người thuộc mọi tầng lớp khác nhau.

Dù trải qua nhiều thăng trầm của đất nước, nghệ thuật điêu khắc của Bảo Hà luôn được duy trì và phát triển. Cũng xuất phát từ nghề điêu khắc, tạc tượng và múa rối cạn cũng ra đời và phát triển đến ngày nay. Hiện nay làng Bảo Hà có gần 1.000 hộ làm nghề, trong đó có trên 200 hộ tạc tượng với 20 xưởng sản xuất. Sản phẩm làng nghề ngày càng đa dạng, phong phú hơn, bên cạnh các sản phẩm truyền thống (tượng phật, tượng thánh, con rối…) còn có thêm nhiều các sản phẩm mới phù hợp với thời đại như các sản phẩm thờ cúng (bàn thờ, câu đối…), tượng lớn nhỏ các loại, tượng truyền thần, tranh sơn mài…

Trải qua hơn sáu thế kỷ, nghề tạc tượng có sự gần gũi mật thiết với tín ngưỡng truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam, giữ gìn truyền thống văn hóa của dân tộc. Cùng với đó, nghề tạc tượng cũng đã giúp cho người dân Bảo Hà có cuộc sống sung túc, đủ đầy.

Để tạo ra một sản phẩm, các nghệ nhân phải sử dụng hàng chục công cụ như: Dụng cụ tạo dáng của sản phẩm; dụng cụ để tạo ra sản phẩm, gồm hàng chục loại đục khác nhau; dụng cụ làm nhẵn công trình và dụng cụ sơn (thép sơn, chổi sơn) và một sản phẩm phải trải qua các bước: nghiên cứu mẫu, chọn chất liệu, tạo hình, dập, đục đơn giản và chi tiết, gọt, cạo, mài giáp giấy, đánh bóng, lắp giáp và gắn các chi tiết, sơn nhiều lần, dán vàng. và trang trí bằng bạc…

Du khách thập phương và người dân Hải Phòng từ các quận huyện khác, đến với Bảo Hà là thấy được “sức sống” của một làng nghề truyền thống lâu đời và độc đáo, hòa quyện vào cuộc sống của người dân địa phương; thấy được không khí làm nghề sôi động, thấy được sự tài hoa, khéo léo, tỉ mỉ cùng những hiểu biết về kỹ thuật, mỹ thuật, văn hóa trong từng công đoạn để làm ra các tác phẩm sống động, đa dạng và tinh tế…mang đậm các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt.   Với những đóng góp tích cực và giá trị đó, năm 2007 làng nghề tạc tượng Bảo Hà đã được Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng công nhận là “Làng nghề truyền thống điêu khắc gỗ – sơn mài”.

Hiện nay làng Bảo Hà thu hút rất đông du khách thăm quan, chiêm ngưỡng tận mắt những nghệ nhân snág tạo nghệ thuật (Ảnh: sưu tầm)

Sự độc đáo của những bức tượng đến từ hình khối chắc chắn, cân đối, được thổi hồn và mang đậm giá trị văn hóa truyền thống được làm nên từ bàn tay tài hoa, sự sáng tạo của những người làng điêu khắc Bảo Hà ngày càng khách hàng ưa chuộng và tìm đến./.

Theo Hải Phòng News

Thăm làng tạc tượng Bảo Hà

Từng có trên 60 làng nghề với 20 loại hình nghề khác nhau, trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, đến nay Hải Phòng còn hơn 30 làng nghề, trong đó có 12 làng được UBND thành phố cấp bằng công nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn. Không ít những làng nghề tưởng chừng mai một nhưng nay đang hồi sinh, góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế xã hội cũng như gìn giữ các giá trị văn hoá truyền thống.

lang

 

Đã từ lâu, làng tạc tượng Bảo Hà (xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo) nổi tiếng với nghề điêu khắc gỗ mang đậm dấu ấn bản sắc dân tộc. Là một làng nghề hơn 700 năm tuổi, Bảo Hà vừa lưu giữ được những giá trị truyền thống vừa mang trong mình dáng dấp của một làng quê đang đổi mới từng ngày.

Các vị cao niên trong làng kể lại, nghề điêu khắc gỗ và sơn mài ở Bảo Hà có từ lâu đời và được coi là cái nôi của nghề tạc tượng cả nước. Khoảng thế kỷ XV, cụ Nguyễn Công Huệ đã khai sinh ra nghề tạc tượng nơi đây và tên tuổi của cụ cũng gắn liền với lịch sử phát triển của nghề. Hiện nay, tại miếu Cả ở làng Bảo Hà vẫn lưu giữ tượng chân dung cụ Nguyễn Công Huệ mà tương truyền là do chính tay cụ tạc.

Hiện Bảo Hà có 973 hộ thì có tới gần 500 hộ làm các ngành nghề phi nông nghiệp. Trong đó, chủ yếu là chuyên nghề điêu khắc gỗ, với khoảng 20 cơ sở sản xuất tập trung. Cuộc sống của người dân làng nghề đang từng ngày “thay da đổi thịt”.

 

lang

Bảo Hà không chỉ nổi tiếng với nghề tạc tượng, độc đáo với nghề làm nhạc cụ dân gian mà còn được biết đến với nghề dệt chiếu có từ lâu đời. Tuy nhiên, cái hay của nghề làm chiếu ở Bảo Hà là đã tập trung được các hộ sản xuất nhỏ lẻ vào hợp tác xã. Sau khi HTX ra đời đã thu hút được sự tham gia của hàng chục hộ làm chiếu trên địa bàn xã. Không chỉ giúp giữ nghề truyền thống, HTX còn góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông nhàn tại địa phương. Người thợ làm chiếu bây giờ không còn phải lo tìm đầu ra cho sản phẩm mà chỉ tập trung làm nghề, dồn tâm huyết dệt nên những sản phẩm chất lượng cao. Ở Bảo Hà, nghề làm chiếu bận rộn quanh năm, đến tháng Chạp thì không khí sản xuất càng nhộn nhịp, khẩn trương. Người thợ như chạy đua với thời gian để đảm bảo đúng hẹn giao hàng cho khách. Công việc ngày cuối năm dù có bận rộn hơn nhưng ai nấy cũng đều phấn khởi vì có thêm phần thu nhập để sắm tết.

Bằng sự tài hoa và tâm huyết với nghề, những lớp thợ tạc tượng, làm chiếu của làng Bảo Hà đã từng ngày khôi phục nghề truyền thống của quê hương. Việc UBND thành phố công nhận Bảo Hà là làng nghề truyền thống đạt tiêu chuẩn của Bộ NN&PTNT đã khẳng định những nỗ lực và đóng góp không mệt mỏi của lớp lớp những người thợ tài hoa xưa và nay. Bên cạnh những làng nghề quy mô xã, trên địa bàn thành phố còn có hàng chục làng nghề ở quy mô thôn. Có thể nói, dù còn tồn tại nhiều khó khăn, bất cập, song các làng nghề này đã góp phần giải quyết việc làm, nâng cao đời sống người dân, thúc đẩy tiến trình xây dựng nông thôn mới.

Đến với làng hoa ở các xã Đặng Cương, Đồng Thái, Lê Lợi của huyện An Dương mới thấy thiên nhiên đã rất ưu đãi cho mảnh đất và con người nơi đây. Với sự chịu thương, chịu khó, sự khéo léo, sáng tạo, người nông dân nơi đây đã biến những cánh đồng trồng lúa thu nhập thấp sang trồng đào và nhiều loài hoa có giá trị kinh tế cao. Bên cạnh những cây trồng truyền thống, những loài hoa cho giá trị kinh tế cao đã được người dân đưa vào trồng đại trà như hoa ly, hoa layơn Pháp, hoa loa kèn trái vụ Đan Mạch.

Làng nghề Lật Dương, xã Quang Phục, huyện Tiên Lãng có từ thế kỷ XVII với sản phẩm chiếu cói được trong và ngoài thành phố biết đến. Doanh thu hàng năm của làng nghề có thời đạt từ 10 – 12 tỷ đồng/ năm. Trước thử thách nghiệt ngã của cơ chế thị trường, không biết bao nhiêu người ở bao nhiêu nơi đã bỏ nghề dệt chiếu, thì người Lật Dương chẳng những giữ được nghề, mà còn đưa nó thành thương hiệu “Chiếu cói Lật Dương” nổi tiếng khắp vùng Hải Phòng, Hải Dương, ra tới Quảng Ninh, lên tận Bắc Ninh, Bắc Giang. Sau một thời gian dài mai một, giờ đây làng nghề dệt chiếu cói Lật Dương xã Quang Phục (huyện Tiên Lãng) đã trở lại không khí nhộn nhịp, tạo sắc thái mới cho một làng nghề dệt chiếu truyền thống.

Làng nghề Bảo Hà, chiếu cói Lật Dương cùng nhiều làng nghề khác được UBND thành phố cấp bằng công nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn mới đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt của các làng nghề truyền thống tại Hải Phòng. Vẫn biết phía trước còn nhiều khó khăn, song với sự nỗ lực của những nghệ nhân, những con người tâm huyết với nghề; cùng sự trợ giúp của các ngành chức năng, các làng nghề của Hải Phòng sẽ đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển kinh tế, xã hội và mãi là nơi bảo tồn, lưu giữ những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc.

(Theo dulichvietnam)