Vì sao pho tượng cổ 700 năm tuổi tọa lạc trong miếu Bảo Hà ở Hải Phòng biết “ngồi xuống đứng lên”?

Pho tượng tại miếu Bảo Hà (thôn Bảo Hà, xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng), thờ Đức Linh Lang Đại vương trong tư thế ngồi trên ngai, tay cầm văn tự có thể chuyển động, đứng lên một cách nhẹ nhàng, khoan thai, rồi lại từ từ ngồi xuống được xem là một trong số những pho tượng kỳ lạ, độc nhất vô nhị tại Việt Nam.

Từ xa xưa, làng Bảo Hà (xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo) là một địa danh nổi tiếng ở TP Hải Phòng về nghề truyền thống như tạc tượng, múa rối.

Bí ẩn pho tượng ngàn năm tuổi biết đứng lên, ngồi xuống - Ảnh 1.

Pho tượng Đức Linh Lang Đại vương tọa lạc tại miếu Bảo Hà (thôn Bảo Hà, xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng) có thể “đứng lên, ngồi xuống”

Tương truyền, cụ Nguyễn Công Huệ là người có công sáng lập, truyền dạy nghề tạc tượng cho dân làng Đồng Minh.

Những năm giặc Minh đô hộ nước ta, cụ Huệ bị bắt đi phục dịch ở Quan Xưởng, Trung Quốc. Trong thời gian đó, cụ đã chú tâm học nghề chạm khắc, sơn mài và châm cứu. Đến đời Lê Nhân Tông (1443 – 1459), cụ Huệ trở về quê và dạy nghề tạc tượng cho dân làng. Mọi người suy tôn cụ là Tổ nghề tạc tượng và được phối thờ tại miếu Bảo Hà.

Cho đến giờ, người dân Đồng Minh vẫn lưu truyền giai thoại “7 hạt gạo nếp tạc thành đàn voi” của người thợ tạc tượng Tô Phú Vượng. Ông là một trong những học trò nổi tiếng tài hoa của cụ Huệ. Vua Lê Cảnh Hưng đã vời ông Vượng vào cung tạc ngai vàng

Sau khi tạc xong ngai vàng, ông sung sướng đã tạo ra một kiệt tác nên ngồi thử. Bị thái giám phát hiện và tâu với nhà vua, ông Vượng bị khép tội “khi quân phạm thượng”, nhốt vào ngục tối chờ ngày xử trảm. Sống trong ngục mấy hôm, ông Vượng cảm thấy “ngứa nghề”. Thấy những cọng rơm nếp còn sót lại một vài hạt thóc, ông liền lấy tay bóc, chuốt 7 hạt gạo nếp thành 7 con voi với các tư thế khác nhau.Chuyện về đàn voi tí hon truyền đến khắp nơi, nhà vua biết chuyện, cảm phục cái tài của người thợ tạc tượng tài hoa, đã quyết định tha bổng, phong ông Tô Phú Vượng tước “Kỳ tài hầu” và cho về quê mở mang, lưu truyền nghề nghiệp.

Theo thần phả, Linh Lang là con vua Lý Thánh Tông sinh vào tháng Chạp, năm Giáp Thìn (1064), được đặt tên là Hoằng Chân, mẹ là cung phi thứ 9. Linh Lang được sinh ra tại làng ở Trị Chợ, Thủ Lệ (quận Ba Đình, TP Hà Nội ngày nay). 

Khi giặc Tống xâm lược nước ta, Hoàng tử Linh Lang chỉ huy quân sĩ chống giặc. Trong một đợt hành quân, ngài tới trang Linh Động (làng Bảo Hà ngày nay) dựng đồn binh, luyện tập binh sĩ, tuyển mộ quân. 

Về sau này, để tưởng nhớ công ơn của ngài, dân làng xây miếu thờ trên nền đồn binh xưa. Các triều đại phong kiến sau này như đời vua Cảnh Thịnh, Tự Đức, Duy Tân và Khải Định đều phong sắc cho ngài là Thượng Đẳng thần, dân làng Bảo Hà tôn ngài là Thành hoàng và tạc tượng thờ.

Ông Đặng Văn Thạnh (70 tuổi), thủ từ miếu Bảo Hà, cho hay miếu Bảo Hà còn có tên gọi khác là Tam Xã Linh Từ. Sở dĩ có tên gọi như vậy là do từ cuối thế kỷ 13, miếu được nhân dân 3 xã Hà Cầu, Bảo Động, Mai An xây lên.

Trải qua các thời kỳ nhà Lê, Nguyễn…miếu Bảo Hà được trùng tu và mở rộng dần. Đến đời vua Thành Thái (1889-1907) là lần trùng tu cuối cùng nên miếu hiện nay mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn nhiều hơn.

Theo cán bộ văn hóa xã Đồng Minh, bức tượng đặt biệt tại miếu có từ thế kỷ 13, tuổi đời trên 700 năm với nét độc đáo và kỳ lạ. Không giống các pho tượng được đặt trong các đền đài, miếu mạo, pho tượng thờ Đức Linh Lang Đại vương ở miếu Bảo Hà (xã Đồng Minh) được tạc cao khoảng 1,7 m như người thật, nét mặt khôi ngô, đầu đội vương miện, mình khoác áo lụa bào trong tư thế ngồi trên ngai, tay cầm văn tự.

Vị cán bộ văn hóa xã Đồng Minh cho hay pho tượng là sự kết hợp tinh túy của nghệ thuật dân gian và nghệ thuật hiện đại, đây cũng là một bảo tồn nhỏ của môn nghệ thuật múa rối truyền thống của làng Bảo Hà.

Bí ẩn pho tượng ngàn năm tuổi biết đứng lên, ngồi xuống - Ảnh 2.

Bí ẩn pho tượng ngàn năm tuổi biết đứng lên, ngồi xuống - Ảnh 3.

Pho tượng kỳ lạ tạc Đức Linh Lang Đại vương tọa lạc tại miếu Bảo Hà (thôn Bảo Hà, xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng) tại miếu Bảo Hà có thể chuyển động, đứng lên, ngồi xuống một cách nhẹ nhàng, khoan thai.

Vị này cũng “bật mí” pho tượng có thể đứng lên, ngồi xuống là nhờ hoạt động theo nguyên lý “cánh tay đòn” gồm hệ thống ròng rọc, khớp nối hoàn toàn bằng một loại gỗ đặc biệt nằm trong căn hầm phía dưới cung cấm mà đến nay người dân địa phương vẫn chưa thể biết đó là loại gỗ gì.

Bí mật của sự chuyển động của bức tượng Đức Đức Linh Lang Đại vương nằm ở cánh cửa của điện thờ nơi có bức tượng. Các nghệ nhân tạc tượng xưa khéo léo kết hợp giữa nghệ thuật tạc tượng và nghệ thuật múa rối cạn, làm ra hệ thống truyền lực kéo đẩy nối giữa cánh cửa với các khớp của pho tượng. Vì vậy, khi mở, cánh cửa sẽ truyền lực lên pho tượng. Bức tượng dần đứng lên và ngược lại, khi cửa khép lại thì bức tượng lại trở về tư thế ngồi ban đầu. Để đóng, mở cánh cửa để bức tượng đứng lên ngồi xuống, chỉ có người quản lý miếu Bảo Hà mới có thể làm thuần thục. Sự chuyển động của bức tượng khiến cho những người đến đây trầm trồ khen ngợi về sự tài hoa của người thợ làng Bảo Hà, khiến ngôi miếu này trở nên linh thiêng, kì bí.

(Theo Báo Dân Việt)

Làng tạc tượng Bảo Hà – Nơi lưu giữ tinh hoa văn hóa Việt

Hải Phòng nổi tiếng với nhiều làng nghề truyền thống lâu đời, độc đáo và giá trị, như làng đúc Mỹ Đồng, làng hoa Hạ Lũng… và làng tạc tượng Bảo Hà, một ngôi làng có lịch sử hơn 500 năm, được coi là cái nôi của nghề tạc tượng Việt Nam. Với những nét độc đáo riêng, làng nghề điêu khắc gỗ Bảo Hà đã trở thành một điểm đến thú vị của du khách trong và ngoài nước.

Hải Phòng nổi tiếng với nhiều làng nghề truyền thống lâu đời, độc đáo và giá trị, như làng đúc Mỹ Đồng, làng hoa Hạ Lũng… và làng tạc tượng Bảo Hà, một ngôi làng có lịch sử hơn 500 năm, được coi là cái nôi của nghề tạc tượng Việt Nam. Với những nét độc đáo riêng, làng nghề điêu khắc gỗ Bảo Hà đã trở thành một điểm đến thú vị của du khách trong và ngoài nước.

Nằm cách tuyến đường nối từ cầu Lạng Am đến cầu Nhân Mục gần 3 km, làng Bảo Hà (một thời có tên là Linh Động) trực thuộc xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, vùng đất địa linh nhân kiệt của thành phố Hải Phòng nơi không chỉ nổi tiếng với truyền thống hiếu học và tôn vinh những giá trị truyền thống.

Nói Bảo Hà là cái nôi tạc tượng của Việt Nam bởi nghề tạc tượng tại Bảo Hà đã có lịch sử hình thành và phát triển rất lâu đời. Theo truyền thuyết được lưu truyền tại làng thì từ hơn 600 năm trước, vào thế kỷ thứ XV, khi nhà Minh đô hộ Việt Nam (1407-1427), đãbắt hàng loạt các thanh niên trai tráng với mục đích đưa sang bên kia biên giới phục vụ cho công cuộc xây dựng các lăng tẩm, đền đài… của họTrong số đó có chàng trai Nguyễn Công Huệ, người con của làng Bảo Hà, người đã học được kỹ thuật tạc tượng và sơn mài vô cùng quý báu. Sau khi hồi hương, Nguyễn Công Huệ đã chia sẻ, truyền dẫn lại những kỹ năng, hiểu biết và cả sự đam mê của mình với nghề tạc tượng cho người thân trong gia đình, dòng tộc và dân làng Bảo Hà. Kể từ đó, ngoài việc đồng áng, người làng Bảo Hà đã có thêm nghề mưu sinh mới là tạc tượng và làng cũng rất nhanh chóng trở nên nổi tiếng không chỉ trong phạm vi vùng châu thổ sông Hồng với nghề tạc tượng Phật. Khi ông mất, dân làng Bảo Hà nhớ ơn lập miếu, tạc tượng và tôn thờ ông như tổ sư của nghề. Ngôi miếu này ngày nay vẫn tồn tại và quanh năm luôn nồng ấm khói hương, như một minh chứng tự nhiên và rõ nét cho sức sống mãnh liệt của làng nghề cùng những giá trị tinh hoa mang tính truyền thống của nghề tạc tượng tại nơi đây.

Miếu Bảo Hà, nơi thờ Linh Lang Đại Vương và ông tổ của nghề tạc tượng Nguyễn Công Huệ (Ảnh: sưu tầm)

Đức Linh Lang Đại Vương, do Nguyễn Công Huệ tạc. Bức tượng có tuổi đời hơn 500 năm này có thể được coi là độc nhất vô nhị tại Việt Nam, bởi sự kết hợp giữa nghệ thuật điêu khắc và múa rối, khiến tượng có thể đứng lên ngồi xuống được(Ảnh: sưu tầm)

Trong thời kỳ phong kiến, nghề tạc tượng tại Bảo Hà luôn được duy trì và phát triển nức tiếng khắp xứ Đông;làng có nhiều nghệ nhân giỏi được coi là kỳ tài của nghề, được triều đình trọng dụng, được giao tạc ngai vàng cho vua. Nhiều người được các triều đại Việt Nam sắc phong như: Hoàng tín đại phu kỳ tài hầu Tô Phú Vượng, Diệu Nghệ Bá Tô Phú Luật, Phụng thi tạc tượng cục, chuyên lưu ứng vụ, cục phó nam tước Hoàng Đình Úc… Các nghệ nhân tạc tượng làng Bảo Hà đã đi nhiều nơi trong và ngoài vùng như: Ninh Giang (Hải Dương), Tiên Lãng (Hải Phòng), Đông Hưng (Thái Bình)… để tạc tượng cho các chùa lớn, làm quân rối cho các phường rối nổi tiếng… Những tác phẩm do họ làm ra mang phong cách nghệ thuật độc đáo, có uy tín về chất lượng chiếm được cảm tình của đông đảo mọi người thuộc mọi tầng lớp khác nhau.

Dù trải qua nhiều thăng trầm của đất nước, nghệ thuật điêu khắc của Bảo Hà luôn được duy trì và phát triển. Cũng xuất phát từ nghề điêu khắc, tạc tượng và múa rối cạn cũng ra đời và phát triển đến ngày nay. Hiện nay làng Bảo Hà có gần 1.000 hộ làm nghề, trong đó có trên 200 hộ tạc tượng với 20 xưởng sản xuất. Sản phẩm làng nghề ngày càng đa dạng, phong phú hơn, bên cạnh các sản phẩm truyền thống (tượng phật, tượng thánh, con rối…) còn có thêm nhiều các sản phẩm mới phù hợp với thời đại như các sản phẩm thờ cúng (bàn thờ, câu đối…), tượng lớn nhỏ các loại, tượng truyền thần, tranh sơn mài…

Trải qua hơn sáu thế kỷ, nghề tạc tượng có sự gần gũi mật thiết với tín ngưỡng truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam, giữ gìn truyền thống văn hóa của dân tộc. Cùng với đó, nghề tạc tượng cũng đã giúp cho người dân Bảo Hà có cuộc sống sung túc, đủ đầy.

Để tạo ra một sản phẩm, các nghệ nhân phải sử dụng hàng chục công cụ như: Dụng cụ tạo dáng của sản phẩm; dụng cụ để tạo ra sản phẩm, gồm hàng chục loại đục khác nhau; dụng cụ làm nhẵn công trình và dụng cụ sơn (thép sơn, chổi sơn) và một sản phẩm phải trải qua các bước: nghiên cứu mẫu, chọn chất liệu, tạo hình, dập, đục đơn giản và chi tiết, gọt, cạo, mài giáp giấy, đánh bóng, lắp giáp và gắn các chi tiết, sơn nhiều lần, dán vàng. và trang trí bằng bạc…

Du khách thập phương và người dân Hải Phòng từ các quận huyện khác, đến với Bảo Hà là thấy được “sức sống” của một làng nghề truyền thống lâu đời và độc đáo, hòa quyện vào cuộc sống của người dân địa phương; thấy được không khí làm nghề sôi động, thấy được sự tài hoa, khéo léo, tỉ mỉ cùng những hiểu biết về kỹ thuật, mỹ thuật, văn hóa trong từng công đoạn để làm ra các tác phẩm sống động, đa dạng và tinh tế…mang đậm các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt.   Với những đóng góp tích cực và giá trị đó, năm 2007 làng nghề tạc tượng Bảo Hà đã được Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng công nhận là “Làng nghề truyền thống điêu khắc gỗ – sơn mài”.

Hiện nay làng Bảo Hà thu hút rất đông du khách thăm quan, chiêm ngưỡng tận mắt những nghệ nhân snág tạo nghệ thuật (Ảnh: sưu tầm)

Sự độc đáo của những bức tượng đến từ hình khối chắc chắn, cân đối, được thổi hồn và mang đậm giá trị văn hóa truyền thống được làm nên từ bàn tay tài hoa, sự sáng tạo của những người làng điêu khắc Bảo Hà ngày càng khách hàng ưa chuộng và tìm đến./.

Theo Hải Phòng News

Tạc tượng Bảo Hà – 700 năm tuổi một làng nghề

Sau hơn 500 năm, những nghệ nhân làng Bảo Hà (xã Đồng Minh – huyện Vĩnh Bảo – Tp. Hải Phòng) vẫn nức danh xứ Đông bởi có nghề làm tượng Phật.

Sau hơn 500 năm, những nghệ nhân làng Bảo Hà (xã Đồng Minh – huyện Vĩnh Bảo – Tp. Hải Phòng) vẫn nức danh xứ Đông bởi có nghề làm tượng Phật. Về Bảo Hà hôm nay khắp đường làng, ngõ xóm là những xưởng tạc tượng suốt ngày nhộn nhịp tiếng cưa đục. Người dân Bảo Hà đang làm giàu từ chính nghề truyền thống của ông cha.

Xưa kia, làng nghề tạc tượng Bảo Hà từng là nơi sản xuất tượng đẹp có tiếng ở xứ Đông (trấn Đông của kinh thành Thăng Long xưa – PV). Từ thế kỷ XV, ông tổ nghề Nguyễn Công Huệ đã bày cho người dân trong vùng nghề tạc tượng. Tương truyền, bức tượng tổ Nguyễn Công Huệ và tượng thánh Linh Lang Đại Vương trong miếu cổ làng Bảo Hà là những tác phẩm để đời của cụ.

Ngày nay, khi kinh tế thị trường phát triển, những người dân Bảo Hà đã mạnh dạn làm giàu cho bản thân và quê hương từ nghề cổ. Từ những xưởng nhỏ, nhiều gia đình đã mở rộng quy mô thành xưởng sản xuất lớn hơn đáp ứng những đơn đặt hàng ngày càng nhiều, điển hình như xưởng của ông Văn Túy (Hội nghệ nhân Tp Hải Phòng). Bà Nguyễn Thị Ngần, một chủ xưởng chia sẻ: “Tổ tiên đã để lại một nghề quý cho con cháu. Nghề cổ này là nghề giúp chúng tôi có thu nhập. Nếu nói cuộc sống khá giả lên rất nhiều do nghề nghiệp của tiên tổ để lại cũng không có gì quá”.

Chân dung tự tạc của ông tổ nghề Nguyễn Công Huệ.

Tương truyền tượng Linh Lang Đại Vương có tuổi đời gần 500 năm

cũng là một tác phẩm nổi tiếng của ông tổ làng nghề Nguyễn Công Huệ.

Một cụ già người làng Bảo Hà thành kính trước bàn thờ tổ nghề Nguyễn Công Huệ.

Năm 2007 làng nghề Bảo Hà, xã Đồng Minh được UBND Tp Hải Phòng công nhận là “Làng nghề truyền thống điêu khắc gỗ – sơn mài”. Hiện nay, trong số 973 hộ làm nghề ở Bảo Hà, có tới 180 hộ tạc tượng với 20 xưởng sản xuất lớn nhỏ, tạo việc làm cho hơn 200 lao động địa phương. Hàng năm, làng nghề đóng góp 40% giá trị sản xuất công nghiệp địa phương, thu nhập trung bình mỗi xưởng lớn không dưới 30 triệu đồng/tháng, tháng nào nhiều đơn hàng có thể lên tới 50 triệu đồng. Những con số trên tuy chưa nhiều song đã cho thấy sự phối hợp của địa phương và người dân trong việc gìn giữ và phát triển nghề tạc tượng. Làng nghề Bảo Hà đã là một địa điểm trong chương trình “Du khảo đồng quê” của du khách mỗi khi về Vĩnh Bảo tham quan khám phá du lịch làng nghề.

Nói về đặc trưng của tượng ở Bảo Hà, bà Nguyễn Thị Ngần cho biết, khách hàng ở khắp nơi, trong nước và nước ngoài chuộng tượng được làm ở Bảo Hà vì cái thế tượng luôn vững chãi và cân đối, mạnh mẽ về hình khối. Những đường nét trên tượng chân thật như thể đang “tạc” hồn nhân vật.

Với người thợ Bảo Hà, từ khi là anh phó học nghề, đến khi mắt đã quen nhìn và nhập tâm từng mẫu tượng là sự học hỏi không phải ngày một ngày hai. Quan sát họ làm chúng tôi mới thấy, ngoài sự tài hoa, khéo léo của người dân quê, họ còn có sự nhuần nhuyễn của người thợ giỏi. Khi hợp đồng vừa đưa đến, trong đầu người thợ đã hình thành được tư thế tượng; tạo dáng thế nào; kích cỡ cũng đã được áng chừng. Tuy đạt đến mức “thuận mắt quen tay” nhưng mỗi công đoạn không vì thế mà người thợ làm cẩu thả, chủ quan, trái lại rất khoa học. Ví như việc đẽo gọt từng bộ phận rồi chắp lại cho khít, hay công đoạn sơn được người thợ làm cẩn thận để tạo ra được màu “sơn son thếp vàng” bền vững qua năm tháng không bị bào mòn.

Cưa máy giúp người thợ tạo hình cho sản phẩm được chuẩn xác.

Người thợ Bảo Hà dồn hết tâm trí vào mỗi đường đục cho tác phẩm của mình.

Một tượng Phật cỡ lớn đang trong quá trình tạo dáng.

Một người thợ làng nghề Bảo Hà.

Ghép gỗ tạo dáng là một trong những thế mạnh của nguời thợ Bảo Hà.

Nước sơn thí (lớp sơn lót) luôn được người thợ thực hiện rất cẩn thận.

Sự tỉ mỉ của người thợ trên từng đường nét sơn son.

Tượng truyền thần – một mảng sáng tạo thể hiện tài năng của người thợ Bảo Hà.

 

Ngoài thể hiện hình tượng có tính cổ điển khuôn mẫu, tượng truyền thần – một mảng sáng tạo nữa của nghệ nhân Bảo Hà cũng rất đặc sắc. Mỗi bức tượng được thực hiện khá chân thật, khi hóm hỉnh, khi chất phác, khi hiền hậu… Người nghệ nhân thể hiện được khí chất, tính cách của những con người bình thường trên tượng truyền thần. Điều đó càng khẳng định sự khéo léo của người thợ Bảo Hà.

Giữa thanh âm đục đẽo của xưởng, tôi cứ lặng ngồi quan sát từng tốp thợ miệt mài đẽo gọt những thớ gỗ vô tri thành những “tác phẩm nghệ thuật”. Tôi đã thấy cái tài và cả cái tâm của những người “nghệ sỹ nông dân” này. Thiết nghĩ, bằng cách này người dân Bảo Hà không chỉ tự hào, trân trọng vốn quý mà ông cha để lại mà còn là sự gìn giữ thiết thực nhất đối với nghề truyền thống của quê hương.
Theo BAVN

Tượng gỗ Đồng Minh

Q.V.

Trong mỹ thuật truyền thống, cùng với những phường thợ, những nghệ nhân còn lưu tên tuổi, biết bao nghệ nhân tài giỏi khuyết danh đã tạc nên bộ tượng La Hán chùa Tây Phương, tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay chùa Bút Tháp. Nổi danh xứ Đông là các phường thợ làm tượng gỗ sơn Hà Cầu, Bảo Động, Mai Yên nay thuộc xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo của Hải Phòng, đã có ngót trăm năm cha truyền con nối. Bao phủ quanh nghề tạc tượng gỗ Đồng Minh là những truyền thuyết, những giai thoại về những người thợ dân gian tài hoa yêu nghề say đắm, tiêu biểu là hai dòng họ Tô và họ Hoàng.
mythuathaiphong.blogspot.com
Tượng cổ tại Đồng Minh
 
Người Bảo Hà xã Đồng Minh còn kể về cụ tổ nghề tạc tượng của họ là cụ Nguyễn Công Huệ sinh vào khoảng TK 15, bắt đầu của triều đại nhà Lê. Cụ lang thang đi kiếm sống bốn phương mong học lấy một hai nghề độ thân. Cụ đã mang về quê hương nghề tạc tượng, nghề ngải cứu và dệt vải. Trên bốn trăm pho tượng của Đồng Minh còn lại hiện giờ, tượng cụ tổ Nguyễn Công Huệ vẫn được các phường thợ suy tôn. Tượng cụ ngồi thoải mái, chân đi đất, một chân co lên, một bên áo tụt xuống quá vai, áo phanh hở toàn bộ ngực và bụng, nét mặt đạo mạo, phơ phất ba chòm râu, một tay đặt lên đùi, một tay vòng qua đầu gối. Tượng sơn phủ hoàn kim, tỷ lệ người cân xứng, nếp vải quần áo được khắc tả mềm mại, theo kiểu ước lệ của kinh nghiệm dân gian để diễn đạt phần mặt và thân thể khá chuẩn xác, mang rõ nét sự quan sát nghiên cứu từ thực tế. Đây là một trong những pho tượng đẹp nhất của Đồng Minh.
Truyền thuyết về cụ tổ Tô Phú Vượng, người đứng đầu dòng thợ họ Tô, vốn là bố vợ cụ Hoàng Đình Ức, người đứng đầu dòng thợ họ Hoàng. Tài nghệ của hai cha con được loan truyền đến tận Thăng Long. Vua Lê Cảnh Hưng (TK 18) cho sứ giả mời hai người lên kinh đô để chạm khắc ngai vàng. Khi ngai vàng được làm xong, cụ Tô Phú Vượng vốn tính phóng khoáng chẳng kiêng nể phép tắc triều đình, cụ trèo lên ngai ngồi thử tác phẩm của mình. Hành động đó có kẻ mách đến tai vua. Vua Lê Cảnh Hưng truyền cho băt hai cha con cụ Tô Phú Vượnghạ ngục.
Ở trong ngục thất, thời gian đằng đẵng. Buồn bực, nhân tìm thấy hạt thóc còn sót ở chiếc chổi lúa, người nghệ nhân tài hoa đó bèn dùng móng tay khắc hạt gạo thành con voi có đủ vòi và đuôi. Việc ấy cũng lại đến tai vua. Cảm phục tài năng kỳ diệu của nghệ nhân, vua Lê Cảnh Hưng hạ lệnh thả hai cha con ra. Cụ Tô là người can tội phạm thượng lại được phong Kỳ tài hầu, nhưng không được hưởng lộc.
Thời gian sau, cụ Hoàng Đình Ức muốn tỏ lòng biết ơn nhà vua, đã dùng trí nhớ tạc lại nét mặt của vua Lê Cảnh Hưng tạo thành nét mặt tượng Ngọc Hoàng đặt tại chùa làng Đông Cao (nay thuộc Ninh Giang, Hải Dương). Chân dung ấy giống đến nỗi nhà vua cảm phục sắc phong cho cụ Hoàng Đình Ức chức cục phó cục tạc tượng của triều đình. Tờ sắc phong ngày nay con cháu cụ còn lưu giữ được. Riêng kinh nghiệm tạc tượng về tỷ lệ được đúc kết gói gọn trên một thanh tre gọi là “Thước tầm”.
Với quan niệm chạm khắc nhân vật giống thực, tượng “Quan văn” mặt điềm đạm hơi ngửng lên, chòm râu buông rủ, miệng như muốn nói một điều gì. Cặp mắt nhỏ của người nhiều cơ mưu, khăn áo sinh động với những nếp vải được thâm diễn đã được quan sát ký từ thực tế. Tượng Phật Bà cũng một xu hướng ấy, nét mặt Phật Bà khác với các tượng xưa ở ta cũng như ở nhiều nước phương Đông theo một công thức về mắt, môi, cổ, tai… Tượng Phật Bà của nghệ nhân Đồng Minh nét mặt giống như một sư bà trong cuộc đời thực, phúc hậu và thanh khiết rất dân gian Việt Nam.
Xu hướng thứ hai trong các phường tạc tượng ở Đồng Minh là cách nhìn nhân vật khi tạo hình, tạo ấn tượng, ước lệ tự do, hồn nhiên, giống như quan niệm của các nghệ nhân đã chạm khắc đình làng ở các thế kỷ 16,17,18: mộc mạc, chất chứa nhiều cảm xúc chân thực. Các tượng tạc nô bộc ở Đồng Minh khỏe mạnh, hóm hỉnh, tươi vui đang quỳ dâng rượu, bụng phưỡn ra, chiếc khố hờ hững làm người nô bộc như cố khép đùi lại cho kín, vì vậy mông cong lên, miệng thì cười tủm tỉm, đầy vẻ trào lộng, khác hẳn so với những tượng thờ ở chốn tôn nghiêm. Cách nhìn này gần gũi với các con rối nước cũng của Đồng Minh với những khối mảng dứt khoát, mạnh bạo.
Số lượng tượng phong phú của Đồng Minh còn lại ở nhiều giai đoạn đã chứng tỏ người nghệ sĩ dân dan đã quan sát nghiên cứu từ những mẫu thực của cộc đời, có cá tính và đặc điểm tâm lý, với những biểu hiện hồn nhiên, chân thực như tâm tư tình cảm tự nhiên, bộc trực của người lao động. Truyền thống tay nghề điêu luyện ấy góp mặt cùng với những tác phẩm điêu khắc vô giá đóng góp vô cùng to lớn vào kho tàng mỹ thuật Việt Nam.

Bài đăng trên “Tạp chí Mỹ thuật” số 1 năm 1986