Chào mừng bạn đến với Xưởng Tượng Gỗ Bảo Hà – nơi tạo ra những kiệt tác điêu khắc gỗ chân dung theo yêu cầu tại thành phố Hải Phòng. Với sự đam mê và lòng nhiệt huyết, chúng tôi không chỉ là nơi chế tác gỗ, mà còn là nơi biến những ý tưởng và ước mơ của bạn thành hiện thực trong hình hài của gỗ.
Nghệ Thuật và Sự Sáng Tạo
Nghệ thuật điêu khắc gỗ chân dung không chỉ đòi hỏi kỹ thuật chính xác mà còn yêu cầu tư duy sáng tạo và khả năng hiểu biết sâu sắc về tính cách và đặc điểm của người mẫu. Tại đây, chúng tôi không chỉ chế tạo những bức tượng chân dung, mà còn chú trọng vào việc tạo ra các tác phẩm có linh hồn và sức sống riêng, thể hiện đẳng cấp và vẻ đẹp độc đáo.
Sự Tin Tưởng Từ Khách Hàng
Khách hàng là nguồn động viên quan trọng nhất đối với chúng tôi. Chúng tôi hiểu rằng mỗi khách hàng đều có ý tưởng và mong muốn riêng về tượng chân dung gỗ của mình. Chính vì vậy, chúng tôi luôn lắng nghe và tôn trọng ý kiến của khách hàng, từ việc chọn lựa gỗ, thiết kế đến các chi tiết nhỏ nhất. Sự hài lòng và niềm tin từ phía khách hàng là nguồn động viên mạnh mẽ, giúp chúng tôi không ngừng hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Liên Hệ Với Chúng Tôi
Nếu bạn đang tìm kiếm một nơi chế tác tượng chân dung gỗ chất lượng, đẹp mắt và đầy ý nghĩa, hãy liên hệ với Xưởng Tượng Gỗ Bảo Hà. Chúng tôi cam kết mang đến cho bạn những tác phẩm nghệ thuật gỗ tinh tế, chứa đựng sự chân thành và lòng đam mê của đội ngũ nghệ nhân tài năng. Đến với chúng tôi, bạn sẽ không chỉ mua một sản phẩm, mà còn trải nghiệm một hành trình nghệ thuật đầy ý nghĩa.
Trong thế giới phức tạp của điêu khắc, việc tạo ra một bức tượng chân dung từ gỗ không chỉ đòi hỏi kỹ thuật chính xác mà còn yêu cầu lòng kiên nhẫn và tâm huyết. Ở Xưởng Tượng Gỗ Bảo Hà, chúng tôi không chỉ là những nghệ nhân lành nghề, mà còn là những người truyền đam mê nghệ thuật qua từng nét vẽ trên gỗ.
Nghệ Nhân và Tâm Huyết
Ở Xưởng Tượng Gỗ Bảo Hà, chúng tôi coi mỗi khối gỗ như một trang sách trắng, chờ đợi để chúng tôi viết câu chuyện riêng của nó. Các nghệ nhân tại đây không chỉ là những người thợ mộc, họ là những họa sĩ với bàn tay tài năng và trái tim đầy nhiệt huyết. Mỗi chi tiết, từ đường nét của khuôn mặt đến đôi mắt sáng lấp lánh, đều được tạc khắc với sự tỉ mỉ và sự chân thành. Đây không chỉ là việc chế tạo nghệ thuật, mà còn là việc tạo dựng các kiệt tác đầy ý nghĩa và cảm xúc.
Nghệ Thuật Chân Dung Gỗ: Tinh Tế và Tỉ Mỉ
Chúng tôi hiểu rằng việc tạo ra một bức tượng chân dung từ gỗ không chỉ đòi hỏi kiến thức vững chắc về điêu khắc, mà còn đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về con người và nghệ thuật. Mỗi bức tượng chân dung tại Xưởng Tượng Gỗ Bảo Hà không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật, mà còn là một câu chuyện về cuộc sống, về những giá trị văn hóa và tinh thần. Chúng tôi không chỉ tạo ra những tượng chân dung, chúng tôi tạo nên những kiệt tác truyền thống được chế tác với tâm huyết và lòng đam mê.
Sự Độc Đáo và Sáng Tạo
Ở Xưởng Tượng Gỗ Bảo Hà, chúng tôi không chỉ tạo ra các tượng chân dung theo đơn đặt hàng, mà còn khuyến khích sự sáng tạo và độc đáo. Mỗi khuân mặt mà chúng tôi tạo ra không giống ai khác, với các đặc trưng riêng biệt và sự chân thành chứa đựng bên trong. Bằng cách kết hợp nghệ thuật và tâm huyết, chúng tôi tạo ra những tác phẩm nghệ thuật độc đáo và ấn tượng.
Ở Xưởng Tượng Gỗ Bảo Hà, chúng tôi không chỉ chế tác gỗ, chúng tôi tạo ra những tượng chân dung với linh hồn và sự sống động. Hãy để chúng tôi giúp bạn biến những kỷ niệm và hình ảnh thành những kiệt tác nghệ thuật đẹp, ý nghĩa và vĩnh cửu. Đến với chúng tôi, bạn không chỉ mua một tác phẩm, bạn đang sở hữu một câu chuyện, một tâm hồn và một đẳng cấp nghệ thuật không giới hạn.
Hải Phòng – Làng tạc tượng Bảo Hà được coi là cái nôi của nghề tạc tượng Việt Nam, thuộc huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng. Đây cũng là nơi có Miếu Bảo Hà thờ tượng Linh Lang Đại vương có thể tự đứng lên ngồi xuống như người thật, khiến nhiều người đến tham quan ngôi miếu phải kinh ngạc.
Ông Thạnh dọn dẹp bàn thờ pho tượng. Ảnh: Thiên Hà
Tại miếu Bảo Hà (thôn Bảo Hà, xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng) thờ Đức Linh Lang Đại vương – con trai vua Lý Thánh Tông, có một bức tượng tuổi đời trên 700 tuổi được coi là “độc nhất vô nhị” vì có thể “tự đứng lên ngồi xuống”.
Khu vực cổng Miếu Bảo Hà. Ảnh: Thiên Hà
Đây là sự sáng tạo mang nét tinh tế của người dân làng tạc tượng Bảo Hà từ nhiều đời nay. Bởi vậy, người dân làng tạc tượng không chỉ coi bức tượng là bảo vật mang ý nghĩa tâm linh mà còn là biểu tượng cho ngôi làng truyền thống với nghề tạc tượng, múa rối.
Không giống các pho tượng được đặt trong các đền đài, miếu mạo khác, pho tượng Đức Linh Lang Đại vương ở miếu Bảo Hà được tạc cao bằng người thật. Với chiều cao 1,7m, nét mặt khôi ngô, đầu đội vương miện, mình khoác áo lụa bào, trong tư thế ngồi trên ngai vàng, tay cầm văn tự, có thể đứng lên một cách nhẹ nhàng, khoan thai và ngồi xuống từ từ.
Pho tượng Đức Linh Lang Đại vương. Ảnh: Thiên Hà
Ông Đặng Văn Thạnh – Thủ từ Miếu Bảo Hà (người trông miếu) – cho biết, việc pho tượng có thể đứng lên, ngồi xuống, là nhờ hoạt động theo nguyên lý “cánh tay đòn” gồm các hệ thống ròng rọc, khớp nối được làm bằng một loại gỗ đặc biệt nằm trong căn hầm phía dưới cung cấm của miếu.
Bên cạnh đó, các nghệ nhân xưa đã khéo léo kết hợp nghệ thuật tạc tượng với nghệ thuật múa rối cạn, làm ra hệ thống truyền lực kéo đẩy nối giữa cánh cửa với các khớp nối của pho tượng.Sự kết hợp truyền lực kéo đẩy của cánh cửa và pho tượng. Video: Thiên Hà
Hình ảnh pho tượng đứng lên. Ảnh: Thiên Hà
“Tôi mở cánh cửa thì bức tượng dần đứng lên và khi tôi kéo cánh cửa ngược lại (kéo cánh cửa xuống) thì bức tượng từ từ ngồi xuống để trở về tư thế ban đầu.
Cũng nhờ sự độc đáo như vậy mà du khách thập phương tìm đến miếu rất đông. Mỗi ngày, tôi tiếp nhiều đoàn khách từ khắp nơi trở về đây tham quan, chiêm ngưỡng tượng” – ông Thạnh nói.
Khu vực bên ngoài miếu. Ảnh: Thiên Hà
Được biết, Miếu Bảo Hà được công nhận là Di tích Lịch sử cấp quốc gia vào năm 1991, là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa làng nghề tạc tượng từ nhiều đời nay.
Ngôi miếu do chính bàn tay của những người thợ tài hoa thế kỷ XIII chạm trổ có hoa văn tinh xảo, đẽo tạc những bức tượng đẹp được lưu giữ, không chỉ tạo nên sự linh thiêng, kì bí mà còn khiến cho du khách xa gần đều cảm thấy trầm trồ trước sự tài hoa của những nghệ nhân xưa.
Hải Phòng nổi tiếng với nhiều làng nghề truyền thống lâu đời, độc đáo và giá trị, như làng đúc Mỹ Đồng, làng hoa Hạ Lũng… và làng tạc tượng Bảo Hà, một ngôi làng có lịch sử hơn 500 năm, được coi là cái nôi của nghề tạc tượng Việt Nam. Với những nét độc đáo riêng, làng nghề điêu khắc gỗ Bảo Hà đã trở thành một điểm đến thú vị của du khách trong và ngoài nước.
Hải Phòng nổi tiếng với nhiều làng nghề truyền thống lâu đời, độc đáo và giá trị, như làng đúc Mỹ Đồng, làng hoa Hạ Lũng… và làng tạc tượng Bảo Hà, một ngôi làng có lịch sử hơn 500 năm, được coi là cái nôi của nghề tạc tượng Việt Nam. Với những nét độc đáo riêng, làng nghề điêu khắc gỗ Bảo Hà đã trở thành một điểm đến thú vị của du khách trong và ngoài nước.
Nằm cách tuyến đường nối từ cầu Lạng Am đến cầu Nhân Mục gần 3 km, làng Bảo Hà (một thời có tên là Linh Động) trực thuộc xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, vùng đất địa linh nhân kiệt của thành phố Hải Phòng nơi không chỉ nổi tiếng với truyền thống hiếu học và tôn vinh những giá trị truyền thống.
Nói Bảo Hà là cái nôi tạc tượng của Việt Nam bởi nghề tạc tượng tại Bảo Hà đã có lịch sử hình thành và phát triển rất lâu đời. Theo truyền thuyết được lưu truyền tại làng thì từ hơn 600 năm trước, vào thế kỷ thứ XV, khi nhà Minh đô hộ Việt Nam (1407-1427), đãbắt hàng loạt các thanh niên trai tráng với mục đích đưa sang bên kia biên giới phục vụ cho công cuộc xây dựng các lăng tẩm, đền đài… của họTrong số đó có chàng trai Nguyễn Công Huệ, người con của làng Bảo Hà, người đã học được kỹ thuật tạc tượng và sơn mài vô cùng quý báu. Sau khi hồi hương, Nguyễn Công Huệ đã chia sẻ, truyền dẫn lại những kỹ năng, hiểu biết và cả sự đam mê của mình với nghề tạc tượng cho người thân trong gia đình, dòng tộc và dân làng Bảo Hà. Kể từ đó, ngoài việc đồng áng, người làng Bảo Hà đã có thêm nghề mưu sinh mới là tạc tượng và làng cũng rất nhanh chóng trở nên nổi tiếng không chỉ trong phạm vi vùng châu thổ sông Hồng với nghề tạc tượng Phật. Khi ông mất, dân làng Bảo Hà nhớ ơn lập miếu, tạc tượng và tôn thờ ông như tổ sư của nghề. Ngôi miếu này ngày nay vẫn tồn tại và quanh năm luôn nồng ấm khói hương, như một minh chứng tự nhiên và rõ nét cho sức sống mãnh liệt của làng nghề cùng những giá trị tinh hoa mang tính truyền thống của nghề tạc tượng tại nơi đây.
Miếu Bảo Hà, nơi thờ Linh Lang Đại Vương và ông tổ của nghề tạc tượng Nguyễn Công Huệ (Ảnh: sưu tầm)
Đức Linh Lang Đại Vương, do Nguyễn Công Huệ tạc. Bức tượng có tuổi đời hơn 500 năm này có thể được coi là độc nhất vô nhị tại Việt Nam, bởi sự kết hợp giữa nghệ thuật điêu khắc và múa rối, khiến tượng có thể đứng lên ngồi xuống được(Ảnh: sưu tầm)
Trong thời kỳ phong kiến, nghề tạc tượng tại Bảo Hà luôn được duy trì và phát triển nức tiếng khắp xứ Đông;làng có nhiều nghệ nhân giỏi được coi là kỳ tài của nghề, được triều đình trọng dụng, được giao tạc ngai vàng cho vua. Nhiều người được các triều đại Việt Nam sắc phong như: Hoàng tín đại phu kỳ tài hầu Tô Phú Vượng, Diệu Nghệ Bá Tô Phú Luật, Phụng thi tạc tượng cục, chuyên lưu ứng vụ, cục phó nam tước Hoàng Đình Úc… Các nghệ nhân tạc tượng làng Bảo Hà đã đi nhiều nơi trong và ngoài vùng như: Ninh Giang (Hải Dương), Tiên Lãng (Hải Phòng), Đông Hưng (Thái Bình)… để tạc tượng cho các chùa lớn, làm quân rối cho các phường rối nổi tiếng… Những tác phẩm do họ làm ra mang phong cách nghệ thuật độc đáo, có uy tín về chất lượng chiếm được cảm tình của đông đảo mọi người thuộc mọi tầng lớp khác nhau.
Dù trải qua nhiều thăng trầm của đất nước, nghệ thuật điêu khắc của Bảo Hà luôn được duy trì và phát triển. Cũng xuất phát từ nghề điêu khắc, tạc tượng và múa rối cạn cũng ra đời và phát triển đến ngày nay. Hiện nay làng Bảo Hà có gần 1.000 hộ làm nghề, trong đó có trên 200 hộ tạc tượng với 20 xưởng sản xuất. Sản phẩm làng nghề ngày càng đa dạng, phong phú hơn, bên cạnh các sản phẩm truyền thống (tượng phật, tượng thánh, con rối…) còn có thêm nhiều các sản phẩm mới phù hợp với thời đại như các sản phẩm thờ cúng (bàn thờ, câu đối…), tượng lớn nhỏ các loại, tượng truyền thần, tranh sơn mài…
Trải qua hơn sáu thế kỷ, nghề tạc tượng có sự gần gũi mật thiết với tín ngưỡng truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam, giữ gìn truyền thống văn hóa của dân tộc. Cùng với đó, nghề tạc tượng cũng đã giúp cho người dân Bảo Hà có cuộc sống sung túc, đủ đầy.
Để tạo ra một sản phẩm, các nghệ nhân phải sử dụng hàng chục công cụ như: Dụng cụ tạo dáng của sản phẩm; dụng cụ để tạo ra sản phẩm, gồm hàng chục loại đục khác nhau; dụng cụ làm nhẵn công trình và dụng cụ sơn (thép sơn, chổi sơn) và một sản phẩm phải trải qua các bước: nghiên cứu mẫu, chọn chất liệu, tạo hình, dập, đục đơn giản và chi tiết, gọt, cạo, mài giáp giấy, đánh bóng, lắp giáp và gắn các chi tiết, sơn nhiều lần, dán vàng. và trang trí bằng bạc…
Du khách thập phương và người dân Hải Phòng từ các quận huyện khác, đến với Bảo Hà là thấy được “sức sống” của một làng nghề truyền thống lâu đời và độc đáo, hòa quyện vào cuộc sống của người dân địa phương; thấy được không khí làm nghề sôi động, thấy được sự tài hoa, khéo léo, tỉ mỉ cùng những hiểu biết về kỹ thuật, mỹ thuật, văn hóa trong từng công đoạn để làm ra các tác phẩm sống động, đa dạng và tinh tế…mang đậm các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt. Với những đóng góp tích cực và giá trị đó, năm 2007 làng nghề tạc tượng Bảo Hà đã được Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng công nhận là “Làng nghề truyền thống điêu khắc gỗ – sơn mài”.
Hiện nay làng Bảo Hà thu hút rất đông du khách thăm quan, chiêm ngưỡng tận mắt những nghệ nhân snág tạo nghệ thuật (Ảnh: sưu tầm)
Sự độc đáo của những bức tượng đến từ hình khối chắc chắn, cân đối, được thổi hồn và mang đậm giá trị văn hóa truyền thống được làm nên từ bàn tay tài hoa, sự sáng tạo của những người làng điêu khắc Bảo Hà ngày càng khách hàng ưa chuộng và tìm đến./.
Sau hơn 500 năm, những nghệ nhân làng Bảo Hà (xã Đồng Minh – huyện Vĩnh Bảo – Tp. Hải Phòng) vẫn nức danh xứ Đông bởi có nghề làm tượng Phật.
Sau hơn 500 năm, những nghệ nhân làng Bảo Hà (xã Đồng Minh – huyện Vĩnh Bảo – Tp. Hải Phòng) vẫn nức danh xứ Đông bởi có nghề làm tượng Phật. Về Bảo Hà hôm nay khắp đường làng, ngõ xóm là những xưởng tạc tượng suốt ngày nhộn nhịp tiếng cưa đục. Người dân Bảo Hà đang làm giàu từ chính nghề truyền thống của ông cha.
Xưa kia, làng nghề tạc tượng Bảo Hà từng là nơi sản xuất tượng đẹp có tiếng ở xứ Đông (trấn Đông của kinh thành Thăng Long xưa – PV). Từ thế kỷ XV, ông tổ nghề Nguyễn Công Huệ đã bày cho người dân trong vùng nghề tạc tượng. Tương truyền, bức tượng tổ Nguyễn Công Huệ và tượng thánh Linh Lang Đại Vương trong miếu cổ làng Bảo Hà là những tác phẩm để đời của cụ.
Ngày nay, khi kinh tế thị trường phát triển, những người dân Bảo Hà đã mạnh dạn làm giàu cho bản thân và quê hương từ nghề cổ. Từ những xưởng nhỏ, nhiều gia đình đã mở rộng quy mô thành xưởng sản xuất lớn hơn đáp ứng những đơn đặt hàng ngày càng nhiều, điển hình như xưởng của ông Văn Túy (Hội nghệ nhân Tp Hải Phòng). Bà Nguyễn Thị Ngần, một chủ xưởng chia sẻ: “Tổ tiên đã để lại một nghề quý cho con cháu. Nghề cổ này là nghề giúp chúng tôi có thu nhập. Nếu nói cuộc sống khá giả lên rất nhiều do nghề nghiệp của tiên tổ để lại cũng không có gì quá”.
Chân dung tự tạc của ông tổ nghề Nguyễn Công Huệ.
Tương truyền tượng Linh Lang Đại Vương có tuổi đời gần 500 năm
cũng là một tác phẩm nổi tiếng của ông tổ làng nghề Nguyễn Công Huệ.
Một cụ già người làng Bảo Hà thành kính trước bàn thờ tổ nghề Nguyễn Công Huệ.
Năm 2007 làng nghề Bảo Hà, xã Đồng Minh được UBND Tp Hải Phòng công nhận là “Làng nghề truyền thống điêu khắc gỗ – sơn mài”. Hiện nay, trong số 973 hộ làm nghề ở Bảo Hà, có tới 180 hộ tạc tượng với 20 xưởng sản xuất lớn nhỏ, tạo việc làm cho hơn 200 lao động địa phương. Hàng năm, làng nghề đóng góp 40% giá trị sản xuất công nghiệp địa phương, thu nhập trung bình mỗi xưởng lớn không dưới 30 triệu đồng/tháng, tháng nào nhiều đơn hàng có thể lên tới 50 triệu đồng. Những con số trên tuy chưa nhiều song đã cho thấy sự phối hợp của địa phương và người dân trong việc gìn giữ và phát triển nghề tạc tượng. Làng nghề Bảo Hà đã là một địa điểm trong chương trình “Du khảo đồng quê” của du khách mỗi khi về Vĩnh Bảo tham quan khám phá du lịch làng nghề.
Nói về đặc trưng của tượng ở Bảo Hà, bà Nguyễn Thị Ngần cho biết, khách hàng ở khắp nơi, trong nước và nước ngoài chuộng tượng được làm ở Bảo Hà vì cái thế tượng luôn vững chãi và cân đối, mạnh mẽ về hình khối. Những đường nét trên tượng chân thật như thể đang “tạc” hồn nhân vật.
Với người thợ Bảo Hà, từ khi là anh phó học nghề, đến khi mắt đã quen nhìn và nhập tâm từng mẫu tượng là sự học hỏi không phải ngày một ngày hai. Quan sát họ làm chúng tôi mới thấy, ngoài sự tài hoa, khéo léo của người dân quê, họ còn có sự nhuần nhuyễn của người thợ giỏi. Khi hợp đồng vừa đưa đến, trong đầu người thợ đã hình thành được tư thế tượng; tạo dáng thế nào; kích cỡ cũng đã được áng chừng. Tuy đạt đến mức “thuận mắt quen tay” nhưng mỗi công đoạn không vì thế mà người thợ làm cẩu thả, chủ quan, trái lại rất khoa học. Ví như việc đẽo gọt từng bộ phận rồi chắp lại cho khít, hay công đoạn sơn được người thợ làm cẩn thận để tạo ra được màu “sơn son thếp vàng” bền vững qua năm tháng không bị bào mòn.
Cưa máy giúp người thợ tạo hình cho sản phẩm được chuẩn xác.
Người thợ Bảo Hà dồn hết tâm trí vào mỗi đường đục cho tác phẩm của mình.
Một tượng Phật cỡ lớn đang trong quá trình tạo dáng.
Một người thợ làng nghề Bảo Hà.
Ghép gỗ tạo dáng là một trong những thế mạnh của nguời thợ Bảo Hà.
Nước sơn thí (lớp sơn lót) luôn được người thợ thực hiện rất cẩn thận.
Sự tỉ mỉ của người thợ trên từng đường nét sơn son.
Tượng truyền thần – một mảng sáng tạo thể hiện tài năng của người thợ Bảo Hà.
Ngoài thể hiện hình tượng có tính cổ điển khuôn mẫu, tượng truyền thần – một mảng sáng tạo nữa của nghệ nhân Bảo Hà cũng rất đặc sắc. Mỗi bức tượng được thực hiện khá chân thật, khi hóm hỉnh, khi chất phác, khi hiền hậu… Người nghệ nhân thể hiện được khí chất, tính cách của những con người bình thường trên tượng truyền thần. Điều đó càng khẳng định sự khéo léo của người thợ Bảo Hà.
Giữa thanh âm đục đẽo của xưởng, tôi cứ lặng ngồi quan sát từng tốp thợ miệt mài đẽo gọt những thớ gỗ vô tri thành những “tác phẩm nghệ thuật”. Tôi đã thấy cái tài và cả cái tâm của những người “nghệ sỹ nông dân” này. Thiết nghĩ, bằng cách này người dân Bảo Hà không chỉ tự hào, trân trọng vốn quý mà ông cha để lại mà còn là sự gìn giữ thiết thực nhất đối với nghề truyền thống của quê hương. TheoBAVN
Trong mỹ thuật truyền thống, cùng với những phường thợ, những nghệ nhân còn lưu tên tuổi, biết bao nghệ nhân tài giỏi khuyết danh đã tạc nên bộ tượng La Hán chùa Tây Phương, tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay chùa Bút Tháp. Nổi danh xứ Đông là các phường thợ làm tượng gỗ sơn Hà Cầu, Bảo Động, Mai Yên nay thuộc xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo của Hải Phòng, đã có ngót trăm năm cha truyền con nối. Bao phủ quanh nghề tạc tượng gỗ Đồng Minh là những truyền thuyết, những giai thoại về những người thợ dân gian tài hoa yêu nghề say đắm, tiêu biểu là hai dòng họ Tô và họ Hoàng.
Tượng cổ tại Đồng Minh
Người Bảo Hà xã Đồng Minh còn kể về cụ tổ nghề tạc tượng của họ là cụ Nguyễn Công Huệ sinh vào khoảng TK 15, bắt đầu của triều đại nhà Lê. Cụ lang thang đi kiếm sống bốn phương mong học lấy một hai nghề độ thân. Cụ đã mang về quê hương nghề tạc tượng, nghề ngải cứu và dệt vải. Trên bốn trăm pho tượng của Đồng Minh còn lại hiện giờ, tượng cụ tổ Nguyễn Công Huệ vẫn được các phường thợ suy tôn. Tượng cụ ngồi thoải mái, chân đi đất, một chân co lên, một bên áo tụt xuống quá vai, áo phanh hở toàn bộ ngực và bụng, nét mặt đạo mạo, phơ phất ba chòm râu, một tay đặt lên đùi, một tay vòng qua đầu gối. Tượng sơn phủ hoàn kim, tỷ lệ người cân xứng, nếp vải quần áo được khắc tả mềm mại, theo kiểu ước lệ của kinh nghiệm dân gian để diễn đạt phần mặt và thân thể khá chuẩn xác, mang rõ nét sự quan sát nghiên cứu từ thực tế. Đây là một trong những pho tượng đẹp nhất của Đồng Minh.
Truyền thuyết về cụ tổ Tô Phú Vượng, người đứng đầu dòng thợ họ Tô, vốn là bố vợ cụ Hoàng Đình Ức, người đứng đầu dòng thợ họ Hoàng. Tài nghệ của hai cha con được loan truyền đến tận Thăng Long. Vua Lê Cảnh Hưng (TK 18) cho sứ giả mời hai người lên kinh đô để chạm khắc ngai vàng. Khi ngai vàng được làm xong, cụ Tô Phú Vượng vốn tính phóng khoáng chẳng kiêng nể phép tắc triều đình, cụ trèo lên ngai ngồi thử tác phẩm của mình. Hành động đó có kẻ mách đến tai vua. Vua Lê Cảnh Hưng truyền cho băt hai cha con cụ Tô Phú Vượnghạ ngục.
Ở trong ngục thất, thời gian đằng đẵng. Buồn bực, nhân tìm thấy hạt thóc còn sót ở chiếc chổi lúa, người nghệ nhân tài hoa đó bèn dùng móng tay khắc hạt gạo thành con voi có đủ vòi và đuôi. Việc ấy cũng lại đến tai vua. Cảm phục tài năng kỳ diệu của nghệ nhân, vua Lê Cảnh Hưng hạ lệnh thả hai cha con ra. Cụ Tô là người can tội phạm thượng lại được phong Kỳ tài hầu, nhưng không được hưởng lộc.
Thời gian sau, cụ Hoàng Đình Ức muốn tỏ lòng biết ơn nhà vua, đã dùng trí nhớ tạc lại nét mặt của vua Lê Cảnh Hưng tạo thành nét mặt tượng Ngọc Hoàng đặt tại chùa làng Đông Cao (nay thuộc Ninh Giang, Hải Dương). Chân dung ấy giống đến nỗi nhà vua cảm phục sắc phong cho cụ Hoàng Đình Ức chức cục phó cục tạc tượng của triều đình. Tờ sắc phong ngày nay con cháu cụ còn lưu giữ được. Riêng kinh nghiệm tạc tượng về tỷ lệ được đúc kết gói gọn trên một thanh tre gọi là “Thước tầm”.
Với quan niệm chạm khắc nhân vật giống thực, tượng “Quan văn” mặt điềm đạm hơi ngửng lên, chòm râu buông rủ, miệng như muốn nói một điều gì. Cặp mắt nhỏ của người nhiều cơ mưu, khăn áo sinh động với những nếp vải được thâm diễn đã được quan sát ký từ thực tế. Tượng Phật Bà cũng một xu hướng ấy, nét mặt Phật Bà khác với các tượng xưa ở ta cũng như ở nhiều nước phương Đông theo một công thức về mắt, môi, cổ, tai… Tượng Phật Bà của nghệ nhân Đồng Minh nét mặt giống như một sư bà trong cuộc đời thực, phúc hậu và thanh khiết rất dân gian Việt Nam.
Xu hướng thứ hai trong các phường tạc tượng ở Đồng Minh là cách nhìn nhân vật khi tạo hình, tạo ấn tượng, ước lệ tự do, hồn nhiên, giống như quan niệm của các nghệ nhân đã chạm khắc đình làng ở các thế kỷ 16,17,18: mộc mạc, chất chứa nhiều cảm xúc chân thực. Các tượng tạc nô bộc ở Đồng Minh khỏe mạnh, hóm hỉnh, tươi vui đang quỳ dâng rượu, bụng phưỡn ra, chiếc khố hờ hững làm người nô bộc như cố khép đùi lại cho kín, vì vậy mông cong lên, miệng thì cười tủm tỉm, đầy vẻ trào lộng, khác hẳn so với những tượng thờ ở chốn tôn nghiêm. Cách nhìn này gần gũi với các con rối nước cũng của Đồng Minh với những khối mảng dứt khoát, mạnh bạo.
Số lượng tượng phong phú của Đồng Minh còn lại ở nhiều giai đoạn đã chứng tỏ người nghệ sĩ dân dan đã quan sát nghiên cứu từ những mẫu thực của cộc đời, có cá tính và đặc điểm tâm lý, với những biểu hiện hồn nhiên, chân thực như tâm tư tình cảm tự nhiên, bộc trực của người lao động. Truyền thống tay nghề điêu luyện ấy góp mặt cùng với những tác phẩm điêu khắc vô giá đóng góp vô cùng to lớn vào kho tàng mỹ thuật Việt Nam.